Người Tày giữ nghề làm thổ cẩm

Men theo giai điệu Khắp Nôm, chúng tôi về Văn Bàn một ngày cuối đông đầy nắng. Bên sườn núi, rặng cúc quỳ nở muộn vàng rực, lẫn trong triền xanh của cây lá là những đốm lửa trạng nguyên thắp đỏ… Nắng chiều dần phai, nhưng bên khung cửi của nghệ nhân Hoàng Thị Quanh, vẫn tiếng “lách cách” đều đặn con thoi đưa sợi qua lại để những vuông vải dài thêm. Thời gian buông chầm chậm trong nếp nhà sàn lá cọ, mặc cho ngoài sân, lác đác những bông hoa đào bật mầm nụ bé xinh nở sớm…
Phụ nữ Tày ở Làng Giàng duy trì nghề dệt vải thêu thổ cẩm.

Nghệ nhân Hoàng Thị Quanh (xã Làng Giàng) đang lắp cuộn sợi, còn mấy phụ nữ cùng thôn, người thêu thùa hoa văn làm gối, người bật bông kéo sợi, tiếng nói cười vui vẻ, rộn vang cả nếp nhà sàn truyền thống của đồng bào Tày dưới chân núi Gia Lan. Vừa thoăn thoắt bện sợi dây bao dao, nghệ nhân Hoàng Thị Quanh vừa tâm sự: Giờ thế hệ trẻ người Tày ở Văn Bàn ít mặn mà với nghề dệt thêu thổ cẩm, làm đệm bông lau, chăn ga, gối… Chị em chúng tôi luôn trăn trở làm sao để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, truyền lại cho con cháu.

Hơn ai hết, những người đã ở vào tuổi “xưa nay hiếm” như bà Quanh và nhiều phụ nữ Tày ở Văn Bàn luôn đau đáu về việc giữ gìn bản sắc văn hóa đang dần mai một trong đời sống hiện đại. Bởi vậy, dù bận rộn với Câu lạc bộ Khắp Nôm và một số công việc ở xã, nhưng bà Quanh vẫn dành thời gian thêu gối, làm đệm ngồi thủ công, đây cũng là dịp cho con cháu trong nhà nhìn mà học tập.

Chị Hoàng Thị Điệp, thôn Nà Bay, xã Làng Giàng dẫn chúng tôi lên nhà sàn và giới thiệu bộ chăn, đệm, gối, đệm ngồi vẫn còn thơm mùi chàm của con dâu chị mới làm khi về nhà chồng. Chị bảo, dù có thể không nhiều người trẻ biết làm nữa, nhưng trong những bản làng người Tày ở mảnh đất bên dòng suối Chăn thơ mộng vẫn gìn giữ được phong tục khi về nhà chồng, người con gái sẽ làm chăn, đệm, gối, đệm ngồi tặng ông bà, bố mẹ và các anh chị em bên gia đình nhà chồng, đủ mỗi người 1 bộ. Phong tục thể hiện lòng tôn kính, hiếu thuận của con gái khi về nhà chồng, cũng là thể hiện với gia đình mới rằng mình cũng khéo tay, đảm đang…

Để có vải thêu, phụ nữ Tày phải chăm chỉ trồng bông, thu hái, tách bông khỏi hạt, bật bông cho tơi rồi vê bông thành lọn tròn để kéo sợi rồi mới dệt. Còn để thêu thổ cẩm, người Tày dùng sợi chỉ màu tạo nên những hoa văn trên vải. Đưa cho chúng tôi xem chiếc dây bao dao dệt hoa văn thổ cẩm tỉ mẩn, dài chừng 3 sải tay, bà Hoàng Thị Quanh bảo: Nhìn đơn giản vậy thôi, nhưng để dệt xong một chiếc dây bao dao phải mất cả tuần. Con gái Tày thường dệt chiếc dây này tặng người mình yêu thương với lời gửi gắm “Em tặng anh chiếc dây đan/Để anh lên núi Gia Lan chặt vầu”. Vừa nói bà Quanh vừa hát cho chúng tôi nghe bài dân ca bằng tiếng Tày về chiếc dây bao dao.

Cùng với giai điệu Khắp Nôm, những sản phẩm dệt thủ công truyền thống của người Tày giúp “nhận diện” về miền di sản của người Tày ở vùng đất Văn Bàn. Thế nên, hồn quê hương được neo giữ trong từng hoa văn, trong từng sản phẩm, mà ở đó chất chứa yêu thương. Mộc mạc, giản dị nhưng cũng đầy sắc màu độc đáo, làm nên bản sắc riêng thổ cẩm người Tày ở vùng này. Văn hóa là cuộc sống, chính vì vậy, trong những sản phẩm gối, đệm của đồng bào Tày, có thể nhận hình ảnh cách điệu mô phỏng con nhện, cây cỏ bợ, lá cọ và hoa lá trong vườn nhà… rất gần gũi với cuộc sống đời thường.

Đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng hằng ngày, bà Phùng Thị Tưởng, Chủ nhiệm Hợp tác xã thổ cẩm thị trấn Khánh Yên vẫn miệt mài bên khung cửi truyền thống, bên chiếc máy may cũ kỹ, rồi thêu thêu, dệt dệt không ngừng tay. Bởi, với người phụ nữ đã đi gần hết chặng đường của cuộc đời, được làm những sản phẩm truyền thống của dân tộc mình là một niềm vui, cũng là bảo tồn, giữ gìn, truyền lại cho đời sau nghề của cha ông… “Còn sức khỏe trời cho ngày nào, tôi vẫn sẽ làm thổ cẩm, vì đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi”, bà Tưởng chia sẻ.

Không chỉ có vậy, Hợp tác xã thổ cẩm truyền thống của bà Tưởng còn đáp ứng các đơn đặt hàng từ các vùng đồng bào người Tày trong huyện, trong tỉnh và các vùng phụ cận. Những sản phẩm truyền thống của Hợp tác xã còn theo chân gia chủ đến từng nhà, trang trí không gian sống mang màu sắc quê hương, dân tộc mình trong đó.

https://baolaocai.vn/bai-viet/351661-nguoi-tay-giu-nghe-lam-tho-cam

 

Theo LCĐT

Tin Liên Quan

Thăng trầm nghề chạm khắc bạc giữa thời “bão giá”

Từ lâu, nghề chạm khắc bạc của đồng bào Dao đỏ xã Mường Hum, Dền Sáng đã khá nổi tiếng. Trải qua hàng trăm năm, đồng bào Dao đỏ ở nơi đây vừa bảo tồn, gìn giữ nghề chạm khắc bạc của tổ tiên, vừa có nguồn thu nhập khá từ nghề. Vậy nhưng, hơn một năm trở lại đây, khi giá bạc nguyên liệu tăng cao...

Giữ lửa nghề rèn giữa lòng phố thị

Giữa nhịp sống hối hả, tại một góc nhỏ trên đường Hoàng Sào, phường Cam Đường, cha con ông Nguyễn Bá Đồng vẫn miệt mài giữ lửa cho một nghề tưởng chừng đã lùi vào dĩ vãng - nghề rèn.

Giữ "hồn" trang phục bản địa

Trong quá trình phát triển du lịch, việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống đang được các địa phương và ngành chức năng của tỉnh chú trọng thực hiện, trong đó, bảo tồn trang phục các dân tộc thiểu số là nội dung được quan tâm.

Độc đáo nét văn hóa Then của người Giáy

Trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Giáy ở Lào Cai, nghi lễ Then từ lâu đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh quen thuộc, gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng. Giữa nhịp sống hiện đại, ở nhiều bản làng vùng cao, những thầy Then vẫn miệt mài giữ gìn nét đẹp văn hóa dân gian...

Người lưu giữ nghệ thuật chế tác khèn bè Thái

Gần 90 tuổi nhưng ông Vì Văn Ngân ở Bản Ten, phường Nghĩa Lộ vẫn dành trọn tâm huyết lưu giữ nghệ thuật chế tác nhạc cụ dân tộc Thái. Ông là một trong số rất ít người còn biết chế tác hoàn chỉnh chiếc Khèn bè Thái ở vùng Mường Lò. Không chỉ vậy, ông còn sử dụng thành thạo nhiều loại nhạc cụ dân...

Nét đẹp cúng rừng của đồng bào vùng cao Lào Cai

Từ bao đời nay, đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Giáy… ở vùng cao tỉnh Lào Cai vẫn gìn giữ tục lệ cúng rừng vào dịp đầu năm. Nghi lễ không chỉ là nét đẹp văn hóa truyền thống mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, góp phần nâng cao ý thức giữ rừng trong mỗi người dân.