Khúc khải hoàn trong ký ức những cựu chiến binh

Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã lùi xa gần 50 năm, nhưng câu chuyện về những năm tháng cầm súng bảo vệ Tổ quốc, về ngày non sông vang khúc khải hoàn (30/4/1975) vẫn vẹn nguyên trong ký ức của những người lính - những thanh niên thời đại Hồ Chí Minh năm nào.
8a.jpg

Trong ký ức của ông Trần Quang Thành ở thôn Mường 1, xã Xuân Giao (huyện Bảo Thắng), những khói lửa chiến tranh, rồi cả niềm vui đại thắng vẫn còn vẹn nguyên.

Năm 1971, khi vừa tròn 18 tuổi, chàng thanh niên Trần Quang Thành đăng ký tham gia khóa huấn luyện hơn 2 tháng tại thị xã Lào Cai để hành quân vào Nam. Tuy nhiên sau đó, anh nhận thông báo không đủ điều kiện vì sức khỏe chỉ ở hạng B2. Trở về quê, anh làm công nhân ở Nông trường Phú Xuân (huyện Bảo Thắng)…

Làm nông trường được 2 năm, anh Thành lại viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Ngày cầm giấy khám tuyển sức khỏe loại A, anh mừng khôn xiết, mơ ngày ra chiến trận. Sau 2 tháng huấn luyện ở Hà Bắc rồi hành quân vào Nam, anh làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 3, C12, Trung đoàn Cầu đường 99 trực thuộc Bộ Tư lệnh 559. Đó là tiểu đội công binh cầu đường, có nhiệm vụ làm cầu dã chiến cho các đoàn xe qua.

khuc khai hoan 2.jpg

Đóng chân tại huyện Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) - một trong những vùng “đất lửa”, tiểu đội của anh Thành gặp rất nhiều khó khăn, hiểm nguy khi làm nhiệm vụ. Nơi đây luôn hứng chịu những trận “mưa” hóa học của Mỹ nên đất đai cằn khô, cây cối chết đứng, trên bầu trời thì máy bay địch luôn gầm rú. Để tránh sự do thám của địch, tiểu đội phải cắt cử nhau làm xuyên đêm. Mỗi cây cầu bị đánh sập, mỗi đoạn đường bị xới tung, khoét sâu được thay thế bằng những cây cầu dã chiến để các đoàn xe qua…

Ông Thành không nhớ nổi mình và đồng đội đã làm được bao nhiêu cây cầu nối suốt con đường đánh giặc, nhưng cây cầu có tính quyết định trong cuộc đời binh nghiệp cũng như trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 thì ông nhớ mãi.

Cuối tháng 2/1975, trung đoàn của ông được lệnh hành quân vào Nam theo Quốc lộ 1. Lúc này, quân nguỵ bắt đầu rút về Sài Gòn, tháo chạy đến đâu chúng đánh sập cầu đến đó. Đoàn của ông đi ngay sau quân giải phóng, cây cầu nào bị đánh sập thì nối lại, sông nào chưa có cầu thì bắc cầu tạm cho xe cơ giới qua. Thế trận như chẻ tre, quân ta thần tốc đêm ngày với 5 mũi tiến về giải phóng Sài Gòn. Cánh quân của ông Thành về đến Đồng Nai thì phải dừng lại bởi cầu Biên Hòa bắc qua sông Đồng Nai vào Sài Gòn dài 20 nhịp đã bị phá hủy 2 nhịp. Nhiệm vụ đặt ra là phải nối liền cây cầu trong thời gian nhanh nhất. Trời tháng 4, miền Nam nắng như đổ lửa nhưng chỉ trong vòng 12 tiếng đồng hồ khẩn trương tạo mố cầu, lắp ghép thành cầu, nan cầu bằng cách kéo tời ngang sông, 2 nhịp cầu với chiều dài 108 m đã hoàn thành. Cầu thông xe vào lúc 0 giờ ngày 29/4, đoàn quân rầm rập tiến qua sông hợp với các cánh quân khác đánh vào Sài Gòn. Chỉ hơn 24 giờ sau, vào lúc 11 giờ 30 phút, Sài Gòn được giải phóng.

3a.jpg
7a.jpg

Cựu chiến binh Phạm Văn Chinh ở xã Bảo Hà (huyện Bảo Yên) thường nhắc đến thời điểm trước và sau ngày Giải phóng miền Nam với niềm tự hào mãnh liệt.

Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột (10/3/1975), ông cùng các chiến sĩ trong Đại đội Pháo 23 ly, Binh trạm 37 được lệnh kéo pháo thần tốc vào tỉnh Đồng Nai để yểm trợ các cánh quân tiến vào Sài Gòn từ phía Đồng Nai. Ban đầu, ông được giao làm lính trinh sát phòng không trực tiếp tham gia các trận đánh với nhiệm vụ phát hiện máy bay địch, phân loại máy bay, tốc độ bay, từ đó báo lên cấp trên phân tích tình hình cho phương án chiến đấu.

 
khuc khai hoan 3.jpg

Những ngày gần chiến thắng, hai bên đánh nhau rất ác liệt, giành giật trên từng trận địa. Trong một lần đi trinh sát, đồng đội bên mảng thông tin bị thương nặng. Trong tình thế nguy cấp, dù là lính trinh sát phòng không nhưng ông Chinh được giao nhiệm vụ nối dây thông tin hữu tuyến. Với sự nhanh nhẹn, am hiểu trận địa, ông nhanh chóng tìm ra đoạn dây bị đứt. Lúc này, máy bay địch vẫn điên cuồng thả bom, rừng cây nơi ông Chinh làm nhiệm vụ bị xới tung. Tuy nhiên, với sự quả cảm, ông vẫn bám trụ tới cùng. Để nối dây nhanh nhất có thể, ông dùng răng cắn vào dây cáp thay cho việc dùng kìm chuyên dụng phải thao tác lâu. Trong lúc gấp gáp, sợi cáp cứng đã khiến chiếc răng cửa của ông Chinh bị vỡ đôi, tóe máu.

Lại có những lần băng qua bom đạn để hoàn thành nhiệm vụ, khi ngoảnh lại đồng đội vừa chung lưng chiến đấu đã anh dũng hy sinh. Ông Chinh hồi tưởng: "Gian khổ, hiểm nguy rồi đối mặt với mất mát, hy sinh không biết bao nhiêu mà kể nhưng những người lính ngày ấy luôn có một niềm tin sắt đá rằng đất nước sẽ sớm thái bình". Vào thời khắc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cùng với cả nước, đại đội của ông Chinh vỡ òa trong niềm vui đại thắng.

Nhắc đến giây phút thiêng liêng, đôi mắt người lính già đỏ hoe xúc động.

4a.jpg

Sau ngày giải phóng, đại đội của ông Chinh nhận được lệnh đóng quân tại thành phố Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) vinh dự được bảo vệ Sài Gòn, bảo vệ thành quả cách mạng. Những ngày tháng không có bom rơi, đạn nổ nhưng lại là những ngày vô cùng căng thẳng bởi các thế lực thù địch, tàn dư của chế độ cũ vẫn chực chờ nổi dậy. Hơn ai hết, những người vừa bước ra từ cuộc chiến như ông Chinh hiểu giá trị lớn lao của những giây phút hòa bình hiện tại nên luôn nêu cao cảnh giác, ra sức giữ gìn thành quả, đề phòng mọi âm mưu chống phá, lật đổ của các thế lực thù địch. Phải đến gần 1 năm sau, khi tình hình ổn định trở lại, ông Chinh mới xuất ngũ, lên xe trở về quê hương…

Câu chuyện của cựu chiến binh Trần Quang thành và cựu chiến binh Phạm Văn Chinh chỉ là 2 trong nhiều câu chuyện về thanh niên Lào Cai ngày ấy đã nuôi ý chí, khát vọng bảo vệ Tổ quốc. Với họ - những người đã từng chiến đấu ngoài mặt trận, Bác Hồ luôn là tình yêu, là động lực lớn lao, là niềm tin tất thắng và mỗi khi gặp nguy nan, họ lại hướng về để có dũng khí bước tiếp trên con đường Người đã chọn, để cùng làm nên những chiến thắng vẻ vang trong lịch sử dân tộc.

Giờ đây, dù đã đều bước vào tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ý chí ấy, khát vọng ấy vẫn luôn rực cháy, được họ gìn giữ, trao truyền cho thế hệ sau về tinh thần thanh niên thời đại Hồ Chí Minh.

https://baolaocai.vn/khuc-khai-hoan-trong-ky-uc-nhung-cuu-chien-binh-post367833.html

Theo Tô Dung/LCĐT

Tin Liên Quan

Đoàn công tác tỉnh Lào Cai gặp gỡ, làm việc với Đại sứ quán Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ

Ngày 25/6/2026, trong khuôn khổ chương trình công tác tại Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, Đoàn công tác tỉnh Lào Cai do đồng chí Giàng Thị Dung - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh làm Trưởng đoàn đã có buổi gặp gỡ, làm việc với Đại sứ quán Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ nhằm trao đổi về định...

Bí thư Tỉnh ủy Dương Quốc Huy: Nâng cao hơn nữa chất lượng khám chữa bệnh, có chính sách thu hút và giữ chân bác sĩ chuyên khoa sâu

Tiếp tục Chương trình công tác, chiều 25/6, đồng chí Dương Quốc Huy - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy cùng Đoàn công tác của tỉnh đã có buổi làm việc với Sở Y tế về kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2025; 6 tháng đầu năm 2026 và định hướng nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

Bí thư Tỉnh ủy Dương Quốc Huy: Tiếp tục đổi mới phương thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo phương châm “rõ người, rõ việc, rõ kết quả”

Sáng 25/6, Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh (Ban Chỉ đạo) tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026, tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát...

Đổi mới công tác thông tin đối ngoại theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại

Đó là yêu cầu của đồng chí Hoàng Giang - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh tại Hội nghị sơ kết công tác thông tin đối ngoại 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 do Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại tỉnh Lào Cai tổ chức sáng 24/6.

Kỳ 3: Từ "thành phố núi" đến "đô thị thông minh" - bản sắc được chắp cánh bằng công nghệ

Mối quan hệ hợp tác giữa Lào Cai và Trùng Khánh không chỉ được đo bằng những khối lượng container hàng hóa hay những con số kim ngạch xuất nhập khẩu khô khan. Phía sau những thỏa thuận về hạ tầng thép là sự giao thoa sâu sắc giữa "phần hồn" - bản sắc văn hóa vùng cao tinh khôi và "phần xác" - những giải pháp...

Kỳ 2: "Mạch máu" 1.435 mm và cuộc cách mạng logistics thế hệ mới

Điểm nghẽn lịch sử về sự lệch pha khổ đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc đang dần được hóa giải bằng một lộ trình thực thi quyết liệt. Khi dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn 1.435 mm Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã hoàn tất giải phóng mặt bằng và hướng tới mục tiêu vận hành vào năm 2030, Lào Cai...