Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang ký Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 14/9/2023 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045  - Ảnh 1.

Phát triển ngành nghề nông thôn hiệu quả, bền vững, tích hợp đa giá trị; bảo đảm tăng trưởng xanh.

Phát triển kinh tế nông thôn gắn với mục tiêu nông nghiệp sinh thái

Mục tiêu chung của Chiến lược là phát triển ngành nghề nông thôn nhằm phát huy tiềm năng của khu vực nông thôn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân; góp phần bảo vệ môi trường, tôn tạo, giữ gìn cảnh quan, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển kinh tế nông thôn gắn với mục tiêu nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh.

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành nghề nông thôn đạt khoảng 6,0 - 7,0%/năm. Thu nhập bình quân lao động trong các hoạt động ngành nghề nông thôn gấp 2,5 - 3 lần so với năm 2020.

Thu hút được khoảng 5 triệu lao động thường xuyên trong các hoạt động ngành nghề nông thôn. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng ngành nghề nông thôn đạt trên 6,0 tỷ USD/năm.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo khu vực ngành nghề nông thôn là 80% và tỷ lệ được cấp bằng, chứng chỉ đạt 35%.

Hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, ổn định đáp ứng 70% nhu cầu phát triển ngành nghề nông thôn.

Tầm nhìn đến năm 2045, ngành nghề nông thôn tiếp tục là hoạt động mang lại thu nhập, tạo việc làm cho lao động ở nông thôn, góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân; phát triển ngành nghề nông thôn theo hướng phát triển bền vững, thông minh, thân thiện với môi trường, gắn với xây dựng không gian nông thôn xanh, sạch, đẹp; gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá, lịch sử và truyền thống của vùng, miền.

Định hướng phát triển ngành nông nghiệp

Chiến lược đưa ra định hướng phát triển theo nhóm ngành nghề nông thôn gồm: Nhóm chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; Nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Nhóm xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; Nhóm sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; Nhóm sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; Nhóm sản xuất muối; Nhóm dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn. 

Trong đó, đối với nhóm chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản: Tăng tỷ lệ sử dụng máy móc, thiết bị và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường vào sản xuất. Cải tiến quy trình sản xuất theo chuỗi, đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Đối với nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: Tạo các mẫu mã sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, phát triển sản xuất theo hướng làm quà tặng, đồ lưu niệm phục vụ đối tượng khách du lịch. Tăng cường liên kết giữa các làng nghề thủ công mỹ nghệ, kết hợp các nguyên liệu, vật liệu tạo ra các sản phẩm mới, độc đáo, có tính nghệ thuật, có khả năng sử dụng cao.

Đối với nhóm xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn: Nâng cao năng lực các cơ sở xử lý, chế biến tạo ra các loại nguyên liệu mới, phù hợp với xu hướng phát triển của ngành nghề nông thôn, nhất là sản xuất nguyên liệu tái chế, thân thiện với môi trường và thay thế cho nguyên liệu nhập khẩu. Hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn được cấp chứng chỉ bền vững gắn với các nhà máy sơ chế, chế biến, sản xuất các sản phẩm ngành nghề nông thôn, giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu...

Tập trung bảo tồn, khôi phục các nghề, làng nghề truyền thống

Về định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề: Tập trung bảo tồn, khôi phục các nghề, làng nghề truyền thống đang có nguy cơ mai một, thất truyền, gắn với du lịch; xây dựng các kênh phân phối, giới thiệu sản phẩm làng nghề; ưu tiên thành lập các hội, hiệp hội nghề ở các địa phương, các trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề; hỗ trợ thiết kế mẫu mã, hoàn thiện sản phẩm, thông tin thị trường phục vụ bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề. 

Về thị trường tiêu thụ sản phẩm, đối với thị trường trong nước: Kết nối tiêu thụ sản phẩm với các đô thị lớn; đa dạng hoá các loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao; xây dựng các chương trình du lịch nông thôn, du lịch làng nghề để xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm ngành nghề nông thôn. 

Đối với thị trường xuất khẩu: Đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu vào các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…; mở rộng sang các thị trường tiềm năng khu vực Trung Đông, Mỹ La tinh, châu Phi.

Đa dạng hoạt động trải nghiệm du lịch làng nghề, du lịch nông thôn

Về bảo vệ môi trường gắn với phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch làng nghề: Khẩn trương di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trong khu dân cư vào các cụm công nghiệp, khu sản xuất tập trung; giữ gìn cảnh quan nông thôn gắn với làng sinh thái, thông minh, bảo đảm xanh, sạch, đẹp và thân thiện môi trường; triển khai hiệu quả Chương trình phát triển du lịch nông thôn, du lịch làng nghề trong xây dựng nông thôn mới; đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch; phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nông thôn; đa dạng hoạt động trải nghiệm du lịch làng nghề, du lịch nông thôn. 

https://baochinhphu.vn/chien-luoc-phat-trien-nganh-nghe-nong-thon-den-nam-2030-tam-nhin-den-nam-2045-102230914172055149.htm

theo Báo Chính phủ

Tin Liên Quan

Hướng sinh kế mới từ cây sen

Từ mạnh dạn thử sức với cây sen trên vùng ruộng chằm, bà Hà Thị Tứ, thôn Kiên Lao, xã Quy Mông, từng bước khai thác những giá trị của cây trồng mới, mở thêm hướng sinh kế trên đồng đất quê mình.

Những triệu phú nông dân ở Can Hồ

Từ trên đỉnh dốc Phìn Hồ nhìn xuống, vùng đất Can Hồ, xã Ngũ Chỉ Sơn hiện ra với màu xanh bát ngát của cây cối và những cánh rừng. Ít ai biết rằng, trước đây vùng đất này đã chịu nhiều những đau thương, mất mát do thiên tai, mưa lũ gây ra. Vậy nhưng, trên vùng “rốn lũ” ấy, nhiều hộ dân người Dao...

Lào Cai: Chủ động phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa vụ mùa

Thời tiết nắng, mưa xen kẽ, độ ẩm cao đang tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sinh vật gây hại phát sinh, gia tăng trên các trà lúa vụ mùa. Ngành chuyên môn và các địa phương trong tỉnh đang tăng cường kiểm tra đồng ruộng, hướng dẫn người dân chủ động phòng trừ, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa, góp phần...

Thêm động lực cho chuỗi sản xuất nông nghiệp

7 tháng năm 2026, trong điều kiện chi phí đầu vào còn cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định và dịch bệnh luôn tiềm ẩn, ngành chăn nuôi của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng. Quy mô đàn cơ bản ổn định, sản lượng thịt hơi tăng hơn 3% so với cùng kỳ. Cùng với đó, phương thức sản xuất tiếp tục chuyển...

Lào Cai chấp thuận dự án chế biến 4.500 tấn chè búp tươi mỗi năm

UBND tỉnh Lào Cai vừa chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư dự án Liên kết hợp tác tiêu thụ, chế biến chè xuất khẩu tại các xã vùng cao biên giới Mường Khương, Pha Long.

Lào Cai xây dựng vùng chè an toàn, hướng tới thị trường châu Âu

UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu rà soát toàn diện vùng chè, xây dựng kế hoạch quản lý vùng nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng tới xuất khẩu chè chất lượng cao sang thị trường châu Âu.