Nông nghiệp Việt Nam sau 39 năm nhìn lại

39 năm sau khi đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, ngành Nông nghiệp đã đạt được sự phát triển thần kỳ.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2013 so với năm 1976, sản lượng lúa tăng 4,3 lần; sản lượng ngô 13,4 lần; sản lượng cà phê 234,5 lần; sản lượng cao su 23,6 lần; sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng 25,2 lần; sản lượng thủy sản: 7,7 lần; diện tích cây trồng 2,1 lần; giá trị sản xuất tăng 5,1 lần…

Thành tựu nông nghiệp từ ngày thống nhất đất nước đến nay được nhận diện trên một số góc độ chủ yếu sau đây.

Sản xuất lương thực đạt được sự phát triển vượt bậc. Vào năm 1976, sản lượng lương thực bình quân đầu người nước ta mới đạt 243,3 kg; phải nhập khẩu 880.000 tấn; năm 1980 sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 268 kg, nhập khẩu trên 1,33 triệu tấn. Đến năm 2013, sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 549 kg, xuất khẩu đạt gần 6,6 triệu tấn. Điều đó chứng tỏ, Việt Nam đã chuyển từ chỗ thiếu hụt lớn thành nước bảo đảm được an ninh lương thực trong nước, góp phần bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu với lượng gạo xuất khẩu hàng đầu thế giới.

An ninh lương thực được bảo đảm đã góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam từ độc canh lúa chuyển dần sang phát triển nông nghiệp tương đối toàn diện.

Trong số cây lương thực, ngô tăng cao hơn lúa cả về diện tích (3,5 lần so với 1,5 lần), cả về sản lượng (13,4 lần so với 4,3 lần). Tốc độ tăng của diện tích cây lâu năm gấp nhiều lần của diện tích cây hằng năm (10,51 lần so với 1,7 lần), trong đó diện tích cây công nghiệp lâu năm còn gấp nhiều lần hơn (11,93 lần). Sản lượng cây công nghiệp cao hơn nhiều so với sản lượng lương thực có hạt (cà phê 234,5 lần, hạt tiêu 174,3 lần, cao su 23,6 lần, trong khi cây lương thực trên 4,4 lần). Sản lượng thủy sản tăng cao hơn sản lượng lương thực, trong đó sản lượng nuôi trồng tăng cao hơn sản lượng đánh bắt (25,2 lần so với 5,1 lần). Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng cao hơn diện tích cây trồng và diện tích cây hằng năm (tương ứng là 2,3 lần so với 2,1 lần và 1,7 lần).

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, nếu vào năm 1976 mới chỉ có một số mặt hàng với khối lượng và kim ngạch còn nhỏ (cà phê 8.200 tấn, chè 7.900 tấn, cao su 27.800, một số quả tươi và đóng hộp…), thì đến năm 2013 đã đạt quy mô lớn, gấp nhiều lần trước đây.

Năm 2013 so với năm 1976, cà phê trên 1,3 triệu tấn, cao gấp gần 159 lần; cao su 1,08 triệu tấn, cao gấp 38,7 lần; chè 141.000 tấn, cao gấp 17,8 lần…

Tỷ trọng lao động đang làm việc trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản đã giảm từ 73% năm 1990 xuống còn 46,9% năm 2013, nhờ có một tỷ trọng không nhỏ số lao động ở nhóm ngành này được chuyển sang nhóm ngành công nghiệp-xây dựng (tương ứng tăng từ 11,2% năm 1990 lên 21,1% năm 2013) và nhóm ngành dịch vụ (tương ứng tăng từ 15,8% năm 1990 lên 32% năm 2013).

Tỷ trọng nghèo ở nông thôn cũng đã giảm từ 66,4% năm 1993 xuống còn 21,2% năm 2004, còn 17,4% năm 2010, còn 14,1% năm 2012.

Tuy đạt được nhiều thành tựu, nhưng nông, lâm nghiệp-thủy sản hiện có những hạn chế, bất cập và đứng trước những thách thức không nhỏ mà chúng ta cần nỗ lực khắc phục trong thời gian tới. Theo đó, các hạn chế, bất cập và thách thức về nông, lâm nghiệp-thủy sản có thể được nhận diện ở một số góc độ.

Về vấn đề này, khi trả lời chất vấn tại phiên họp ngày 8/4/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát đã nhìn nhận Việt Nam không thể làm nông nghiệp như cách vẫn làm từ 30 năm qua mà phải thay đổi từ trong nhận thức.

Làm nông nghiệp chủ yếu là lấy công làm lãi, lợi nhuận thấp, nên tích lũy để tái sản xuất còn thấp. Tích lũy từ nông nghiệp thấp, trong khi đầu tư vốn của các ngành khác, kể cả của Nhà nước vào nhóm ngành này thấp và giảm: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cho nông, lâm nghiệp-thủy sản thấp chỉ bằng 1/3 tỷ trọng của nhóm ngành này về GDP.

Tỷ trọng lao động làm việc trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản còn quá cao, gấp 2,3 lần so với tỷ trọng về GDP. Do vậy năng suất lao động của nhóm ngành này năm 2013 chỉ có 26,8 triệu đồng/người, thấp chỉ bằng 21,6% năng suất lao động của nhóm ngành công nghiệp-xây dựng và bằng 28,9% năng suất lao động nhóm ngành dịch vụ.

Là nước nông nghiệp, nhưng Việt Nam vẫn phải chi nhiều ngoại tệ để nhập khẩu các sản phẩm nông, lâm-thủy sản. Trong khi đó, với cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, cần xác định sản xuất là để bán, mà để bán thì phải xem có lợi thế không và sản xuất cái mà thị trường còn thiếu, không chạy theo số lượng, bởi như thế sẽ “tăng cao... trưởng thấp”, “thắng lớn... lợi nhỏ”.

(Theo chinhphu.vn)

Tin Liên Quan

Những “Đại sứ tuổi teen” của Việt Nam tại Liên hoan thanh niên thế giới 2026

Dù tuổi đời còn rất trẻ, các em đã vượt qua quá trình tuyển chọn để trở thành đại diện của thanh thiếu niên Việt Nam tham gia một trong những diễn đàn thanh niên quốc tế lớn nhất thế giới, nơi quy tụ khoảng 10.000 đại biểu đến từ 191 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Viettel Digital Talent: Thực tập sinh 'Made in Vietnam' vươn tầm quốc tế

Viettel Digital Talent của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) vừa giành Giải Đồng tại Brandon Hall Group HCM Excellence Awards 2026, hạng mục Best Selecting and Onboarding Interns. Đây là lần đầu tiên một chương trình thực tập sinh “Made in Vietnam” được vinh danh tại giải thưởng quốc tế này.

Việt Nam chuyển vị thế từ vị thế thụ hưởng sang đóng góp ngày càng thực chất vào các giải pháp toàn cầu

Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc (LHQ) tại Việt Nam Pauline Tamesis khẳng định, sự tham gia ngày càng chủ động của Việt Nam vào các cơ chế đa phương không chỉ thể hiện cam kết mạnh mẽ với LHQ, mà còn cho thấy Việt Nam đang chuyển từ vị thế thụ hưởng hợp tác quốc tế sang đóng góp ngày càng thực...

Việt Nam trở thành điểm đến tiếp theo của chuỗi hackathon AI khu vực

Một sân chơi công nghệ mới dành cho lập trình viên, sinh viên và các nhóm phát triển sản phẩm AI sẽ diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh cuối tháng 10, với trọng tâm là biến các công cụ trí tuệ nhân tạo thế hệ mới thành những giải pháp có khả năng ứng dụng vào nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và cộng đồng.

12 thí sinh Việt Nam lên đường dự Kỳ thi Kỹ năng nghề thế giới lần thứ 48-2026

Chiều 15/9, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Lễ xuất quân Đoàn Việt Nam tham dự Kỳ thi Kỹ năng nghề thế giới lần thứ 48-2026 tại Thượng Hải, Trung Quốc. Đoàn Việt Nam bao gồm 55 thành viên, trong đó có 12 thí sinh tranh tài ở 11 nghề.

Lan tỏa văn hóa Việt qua nền tảng số với "Chương trình Bản sắc"

Ngày 15/9, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát động "Chương trình Bản sắc", nhằm góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam trên nền tảng số, đồng thời khuyến khích ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tạo, tìm hiểu và quảng bá văn hóa dân tộc.