Gỡ khó cho cây sơn tra Nậm Có

Từng là loài cây mọc tự nhiên trên núi cao, sơn tra nay đang trở thành cây kinh tế giúp nhiều hộ dân xã Nậm Có cải thiện thu nhập, giữ đất, giữ rừng và ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, để “vàng xanh” vùng cao phát huy hết giá trị, địa phương vẫn đang đối mặt với bài toán đầu ra, liên kết tiêu thụ và chế biến sản phẩm.
vnq2hfphz-qjfgxbic2lxsery0-xmqv-cbleyy-6znlhrkg9zgqe7bmdf3iyrei3lfaqye4saict-q2lo7nkom893piwzatwwbtixhbc1ncshzel7bl1uyni32wdgp4uy4gt3rnzsafwpztdjjywlqivzqnyzldh6y8fnj2uc-iwhrvgdfoqronf1wm0f3f-8667.jpg
Nậm Có hiện có trên 1.300 ha sơn tra, trong đó trên 700 ha cho thu hoạch ổn định với sản lượng bình quân khoảng 700 - 800 tấn quả mỗi năm.

Những ngày này, trên các sườn núi cao mây phủ của xã Nậm Có, những cây sơn tra đang bước vào thời kỳ ra quả non. Giữa núi đá cheo leo, từng chùm quả nhỏ bắt đầu lớn dần sau mùa hoa trắng, mang theo hy vọng về một mùa vụ mới.

“Của để dành” trên núi

Nậm Có hiện có trên 1.300 ha sơn tra, trong đó trên 700 ha cho thu hoạch ổn định với sản lượng bình quân khoảng 700 - 800 tấn quả mỗi năm. Các thôn Lùng Cúng, Thào Xa Chải, Tu San là những vùng trồng tập trung lớn của xã.

Toàn xã có khoảng 500 - 600 hộ dân tham gia trồng sơn tra, chủ yếu là người dân tộc Mông. Với họ, sơn tra không chỉ là cây phủ xanh đồi núi mà còn là “của để dành”, giúp nhiều gia đình có nguồn thu ổn định để cải thiện cuộc sống và giữ đất, giữ rừng nơi vùng cao.

baolaocai-br_11-57-15-10-thg-5-2026-9938.png
Toàn xã Nậm Có có khoảng 500 - 600 hộ dân tham gia trồng sơn tra.

Gia đình anh Thào Sú Rùa, thôn Lùng Cúng hiện có khoảng 3 ha sơn tra. Nhờ chăm sóc tốt, mỗi năm gia đình anh thu nhập trên 100 triệu đồng từ bán quả tươi.

Anh Rùa cho biết: Trước đây, bà con chỉ lên rừng hái quả tự nhiên để bán. Giờ nhiều gia đình đã chủ động chăm sóc, bảo vệ cây để tăng năng suất. Nhà tôi coi sơn tra là nguồn thu nhập chính. Cây sơn tra giờ không chỉ giữ rừng mà còn nuôi sống người dân vùng cao.

So với trồng ngô, lúa nương trước đây cho thu nhập thấp và phụ thuộc nhiều vào thời tiết, cây sơn tra đang mang lại giá trị kinh tế cao và ổn định hơn.

Theo người dân địa phương, bình quân mỗi héc-ta sơn tra có thể cho thu nhập khoảng 30 - 50 triệu đồng/năm nếu chăm sóc tốt. Nhiều hộ có diện tích lớn đạt thu nhập trên 100 triệu đồng/năm.

z7810265893989-7eef5cc656e19db24e5181b067b6524a-773.jpg
Bình quân mỗi héc-ta Sơn Tra ở Nậm Có có thể cho thu nhập từ 30 - 50 triệu đồng/năm.

Đến mùa quả chín, nhiều người phải đi từ 4 giờ sáng, đeo gùi men theo những sườn núi dốc để kịp vận chuyển sơn tra xuống điểm tập kết. Mỗi chuyến gùi nặng vài chục cân, người dân phải đi bộ nhiều giờ do đường đất nhỏ hẹp, trơn trượt, xe máy không thể vào tận nơi.

Cây sơn tra chủ yếu mọc trên các triền núi cheo leo ở độ cao hàng nghìn mét. Chính điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ấy lại tạo nên chất lượng đặc trưng cho quả sơn tra Nậm Có với vị chua thanh, thơm đậm hơn nhiều vùng khác.

Tiềm năng lớn nhưng đầu ra vẫn bấp bênh

Dù mang lại nguồn thu đáng kể nhưng việc phát triển cây sơn tra tại Nậm Có vẫn còn nhiều khó khăn.

Giá bán quả tươi dao động khoảng 5.000 - 6.000 đồng/kg. Thời điểm đầu vụ giá cao hơn nhưng vào chính vụ thường giảm mạnh. Đầu ra sản phẩm chưa ổn định, phụ thuộc chủ yếu vào thương lái và thị trường tự do.

Chị Lò Thị Hạnh, thương lái chuyên thu mua sơn tra tại Nậm Có cho biết: “Sơn tra Nậm Có chất lượng tốt nhưng vận chuyển khó khăn, chi phí cao. Vào vụ thu hoạch, lượng quả dồn nhiều trong thời gian ngắn mà chưa có cơ sở chế biến lớn nên giá thường xuống thấp. Nếu có doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu ngay tại địa phương thì giá trị quả sơn tra sẽ cao hơn rất nhiều”.

z7810260151193-00efaca987fa8613734de835c487d249-7091.jpg
z7810261648576-459e9f8f5aa92ee8b3804c7cc8ea22f5-2718.jpg
Người dân xã Nậm Có chủ yếu bán quả tươi, ngâm rượu hoặc sấy thủ công.

Hiện nay, người dân xã Nậm Có chủ yếu bán quả tươi, ngâm rượu hoặc sấy thủ công. Trên địa bàn xã chưa có doanh nghiệp lớn liên kết sản xuất, bao tiêu hay đầu tư chế biến sâu. Địa phương cũng chưa có sản phẩm OCOP, chưa xây dựng được tem truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm sơn tra.

Theo đánh giá của địa phương, nguyên nhân khiến cây sơn tra chưa thu hút được doanh nghiệp đầu tư là do vùng trồng phân tán, giao thông khó khăn, chi phí vận chuyển cao trong khi sản phẩm chủ yếu vẫn ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp. Bên cạnh đó, công nghệ bảo quản sau thu hoạch gần như chưa có nên khó hình thành chuỗi liên kết sản xuất quy mô lớn.

Đây cũng là lý do nhiều năm qua tình trạng “được mùa mất giá” vẫn thường xuyên xảy ra.

Mở hướng phát triển cho “vàng xanh” vùng cao

Theo ông Sùng Thành Công - Chủ tịch UBND xã Nậm Có, địa phương xác định sơn tra là cây đặc sản phù hợp với điều kiện tự nhiên và đang từng bước đưa vào định hướng phát triển kinh tế bền vững.

Ông Sùng Thành Công - Chủ tịch UBND xã Nậm Có cho biết: Xã đang tiếp tục vận động người dân chăm sóc tốt diện tích sơn tra hiện có, bảo vệ rừng và mở rộng vùng trồng phù hợp. Địa phương cũng mong muốn có doanh nghiệp đầu tư liên kết tiêu thụ, chế biến sâu để nâng cao giá trị sản phẩm.

Ngoài phát triển kinh tế từ quả tươi và các sản phẩm chế biến, nhiều người dân kỳ vọng những mùa hoa, mùa quả sơn tra trong tương lai sẽ trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của Nậm Có, giống như ruộng bậc thang đã làm nên thương hiệu cho nhiều địa phương vùng cao. Đây được xem là hướng đi phù hợp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng cảnh quan tự nhiên và nâng cao giá trị cây đặc sản bản địa.

z7810269005758-ed0cd921ef8d47372e2940fb8929fd62.jpg
Người dân kỳ vọng những mùa hoa, mùa quả sơn tra trong tương lai sẽ trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của Nậm Có.

Trên những sườn núi mây phủ quanh năm của Nậm Có, cây sơn tra không chỉ giữ đất, giữ rừng mà đang từng bước giữ người dân ở lại với bản làng. Tuy nhiên, để “vàng xanh” thực sự mang lại giá trị bền vững, địa phương vẫn cần giải bài toán liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Khi đầu ra ổn định và giá trị quả sơn tra được nâng lên, người dân sẽ có thêm động lực gắn bó với núi rừng, phát triển kinh tế ngay tại quê hương.

https://baolaocai.vn/go-kho-cho-cay-son-tra-nam-co-post899327.html

Nguồn: Hồng Oanh (Báo Lào Cai điện tử), Thứ Hai, ngày 11/05/2026 - 17:06 (GMT+7)

Tin Liên Quan

LC26 - khi khoa học nâng tầm hạt gạo Lào Cai

Không chỉ đáp ứng yêu cầu về năng suất, một giống lúa mới do Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh Lào Cai nghiên cứu, chọn tạo còn được đánh giá cao nhờ hàm lượng dinh dưỡng vượt trội. Với những giá trị khác biệt về chất lượng, giống lúa thuần LC26 đang được kỳ vọng trở thành sản phẩm đặc trưng, góp...

Phân bón đồng loạt giảm giá, tạo điều kiện cho nông dân thâm canh

Những ngày giữa tháng 7, khi những cánh đồng lúa mùa đang thì đẻ nhánh, những nương ngô hè thu cần vun gốc bón thúc và những đồi chè bước vào vụ chính, bà con nông dân đã đón nhận một tin vui - phân bón đồng loạt giảm giá.

Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ trong nuôi thủy sản

Ứng dụng khoa học - công nghệ đang trở thành động lực quan trọng giúp ngành nuôi thủy sản ở Lào Cai chuyển từ phương thức sản xuất truyền thống sang hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Từ những ao nuôi của các hộ dân đến các hợp tác xã (HTX), nhiều tiến bộ kỹ thuật đang...

Pha Long: Mô hình trồng ngô ngọt trên đất cằn đạt giá trị khoảng 90 triệu đồng/ha

Sáng 11/7, UBND xã Pha Long tổ chức đánh giá mô hình trồng ngô ngọt trên đất cằn tại thôn Sín Chải. Kết quả bước đầu cho thấy cây ngô ngọt sinh trưởng tốt, cho hiệu quả kinh tế cao, mở ra hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên diện tích đất sản xuất kém hiệu quả.

Tạo lợi nhuận "kép" từ chuẩn hóa và chế biến sâu nông - lâm sản

Thông qua chiến lược về phát triển mạng lưới cơ sở chế biến sâu, chuẩn hóa vệ sinh an toàn thực phẩm và nền tảng số hóa truy xuất nguồn gốc, sản xuất nông nghiệp Lào Cai đang từng bước thu về lợi nhuận “kép”. Vừa gia tăng giá trị kinh tế cho người dân, vừa khẳng định vững chắc uy tín thương hiệu...

Phấn đấu “về đích” sớm kế hoạch trồng rừng

6 tháng đầu năm, toàn tỉnh trồng mới 11.631 ha rừng tập trung, đạt 83% kế hoạch năm, đồng thời, các địa phương, cơ quan, đơn vị còn trồng 6.879 nghìn cây xanh phân tán, tương đương hơn 6.800 ha. Kết quả này phản ánh sự chủ động của các địa phương và sự thay đổi trong tư duy của người dân trong phát triển...