Màu xanh mới trên non cao Y Tý

Không phải lúa hay ngô, những thửa ruộng một vụ kém hiệu quả tại thôn Mò Phú Chải (xã Y Tý) đang được phủ xanh bởi một loại cây đặc biệt: Rêu đất. Từ loài cây mọc dại bản địa, mô hình thuần hóa rêu quy mô 4 ha đang mở ra triển vọng lớn về một sản phẩm hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời đánh thức tiềm năng kinh tế và tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân vùng cao.

 

Y Tý từ lâu nổi tiếng với khí hậu lạnh, độ ẩm cao quanh năm và hệ sinh thái đặc trưng của vùng núi cao. Chính điều kiện tự nhiên ấy đã tạo môi trường phù hợp để nhiều loại rêu phát triển, trong đó có rêu đất - loại giá thể được sử dụng phổ biến trong trồng lan nhờ khả năng giữ ẩm, dinh dưỡng và độ bền cao. Đặc biệt, tại khu vực thôn Mò Phú Chải, rêu đất sinh trưởng khá tốt nhờ điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu đặc thù mà không phải địa phương nào cũng có được.

baolaocai-br_z7841266447390-346e4afc23f75081723b3ce09586d70d-5943.jpg
Anh Nguyễn Văn Hùng, chủ cơ sở trồng rêu ở thôn Mò Phú Chải cùng người dân thăm đồng và đánh giá sức sinh trưởng của rêu.

Trước đây, nguồn giá thể trồng lan của anh Nguyễn Văn Hùng (quê Hải Phòng, người có hơn 12 năm kinh nghiệm trong nghề) phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhập khẩu từ Chile và Trung Quốc. Đến giai đoạn dịch Covid-19, nguồn cung khan hiếm đã thúc đẩy anh tìm hướng chủ động nguyên liệu trong nước. Từ năm 2020, anh rong ruổi qua nhiều vùng cao như Hà Giang, Lai Châu để khảo sát, trước khi dừng chân tại Y Tý vào năm 2022. Chính tại đây, nhận thấy khí hậu và thổ nhưỡng bản địa đặc thù, anh đã bắt tay vào phát triển mô hình trồng rêu đất nhằm thay thế hàng nhập khẩu.

Theo anh Hùng, rêu đất mọc tự nhiên rải rác ở ven ruộng và khu vực đất ẩm ở thôn Mò Phú Chải, nhưng số lượng rất ít, ngắn và thưa thớt. Từ diện tích thử nghiệm trên thửa ruộng khoảng 500 m2, anh tiến hành giữ giống, chăm sóc và nhân rộng dần trên diện tích đất nông nghiệp phù hợp. Qua nhiều vụ chăm sóc, thu hoạch rồi lại giữ giống và tái tạo, đến nay diện tích trồng rêu đất đã mở rộng lên khoảng 4 ha.

“Điều thuận lợi nhất là khí hậu và độ ẩm ở Y Tý rất phù hợp để cây rêu phát triển. Mô hình chủ yếu tận dụng điều kiện tự nhiên sẵn có để chăm sóc, nhân rộng trên diện tích đất canh tác, tạo nguồn nguyên liệu ổn định thay vì phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu”, anh Hùng chia sẻ.

baolaocai-br_sequence-0100-16-38-01still003.png
Y Tý có độ ẩm cao quanh năm và hệ sinh thái đặc trưng của vùng núi cao, phù hợp để trồng và phát triển rêu đất.
baolaocai-br_z7841266490413-70729cf8662f6313499a9eefff7df0b5-1040.jpg
Anh Nguyễn Văn Hùng đang kiểm tra độ phát triển của rêu đất.

Tuy nhiên, quá trình triển khai không hề dễ dàng. Khó khăn lớn nhất là cỏ dại phát triển mạnh trong môi trường có độ ẩm cao, khiến việc chăm sóc tốn nhiều công sức. Ngoài ra, chu kỳ sinh trưởng dài và phụ thuộc nhiều vào thời tiết cũng khiến mô hình đòi hỏi nguồn vốn duy trì ổn định trong thời gian dài.

Theo anh Hùng, từ khi xuống giống đến lúc thu hoạch khoảng một năm rưỡi đến hai năm. Sau khi thu hoạch, rêu được phơi khô tự nhiên rồi ép thành kiện để thuận tiện vận chuyển. Giá rêu khô hiện dao động khoảng 70.000 - 80.000 đồng/kg.

So với các loại giá thể truyền thống như xơ dừa, rêu đất có ưu điểm giữ nước và dinh dưỡng tốt hơn, ít bị phân hủy, phù hợp với hoa lan và nhiều loại cây cảnh có giá trị cao. Nhu cầu rêu đất trong nước ngày càng lớn trong khi phần lớn nguồn cung hiện vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu. Đây được xem là dư địa để phát triển sản phẩm rêu đất Y Tý theo hướng hàng hóa.

baolaocai-br_sequence-0100-16-15-11still001.png
baolaocai-br_sequence-0100-16-29-02still002.png
Mô hình trồng rêu tại thôn Mò Phú Chải, xã Y Tý đang tạo thêm việc làm cho người dân địa phương.

Với quy mô mở rộng lên hơn 4 ha, mô hình đã tạo việc làm ổn định quanh năm cho hàng chục lao động địa phương nhờ quá trình chăm sóc, nhân rộng và giữ giống diễn ra liên tục. Bên cạnh đó, vào những thời điểm cao điểm thu hoạch hoặc sơ chế, vườn rêu còn tạo thêm việc làm thời vụ cho gần 100 lao động, chủ yếu là bà con tại các xã Y Tý và Dền Sáng.

Ông Hầu A Gì (thôn Mò Phú Chải, xã Y Tý) chia sẻ, trước đây nhiều diện tích ruộng tại khu vực này chỉ canh tác được một vụ lúa năng suất thấp. Đến nay, nhờ vừa cho thuê đất vừa trực tiếp tham gia làm việc tại khu trồng rêu, người dân đã có nguồn thu nhập cao hơn trước. Tùy thuộc vào từng thời điểm và vị trí công việc, mức thu nhập của bà con có thể dao động từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng/ngày/người.

baolaocai-br_sequence-0100-17-05-08still005.png
Rêu sau khi thu hoạch được sấy khô và ép thành từng kiện.

Dù tiềm năng lớn nhưng để duy trì mô hình này, chi phí đầu tư bỏ ra không hề nhỏ; riêng tiền nhân công thu hoạch và sơ chế đã lên tới hơn trăm triệu đồng. Do chu kỳ sản xuất dài lại phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mô hình hiện vẫn trong giai đoạn vừa sản xuất ổn định vừa tích lũy kinh nghiệm.

Trong định hướng lâu dài, anh Hùng kỳ vọng sẽ nâng cao sản lượng để hướng tới các thị trường lớn như Nhật Bản, Đài Loan. Tuy nhiên, mục tiêu trước mắt vẫn là đáp ứng nhu cầu nội địa.

Đánh giá về mô hình, ông Lò A Sính, Phó Chủ tịch UBND xã Y Tý khẳng định, địa phương có lợi thế về khí hậu và thổ nhưỡng để phát triển vùng trồng rêu. Đây là hướng đi đột phá trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giúp nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

“Tuy nhiên, để phát triển bền vững, bài toán đặt ra là phải có sự quản lý, định hướng phù hợp và cam kết về đầu ra sản phẩm. Thời gian tới, chính quyền địa phương sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá sát sao hiệu quả mô hình để đưa ra các giải pháp hỗ trợ phát triển lâu dài”, ông Sính cho biết thêm.

baolaocai-br_z7841266434990-0225230d817776d10d3a92458d6bc86c-6484.jpg
Trồng rêu đất là hướng đi phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, giúp nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.

Giữa đại ngàn Y Tý, màu xanh của rêu hôm nay không đơn thuần là một loài cây bản địa, mà là biểu tượng của sự đổi thay và khát vọng làm giàu từ chính tiềm năng quê hương. Từ những thửa ruộng một vụ kém hiệu quả, một hướng đi mới đang hình thành, mở thêm sinh kế mới cho người dân vùng biên viễn. Trong tương lai không xa, khi những kiện rêu mang thương hiệu Y Tý vươn xa tới các thị trường quốc tế, nông nghiệp vùng cao sẽ chính thức bước vào hành trình mới đầy triển vọng.

https://baolaocai.vn/mau-xanh-moi-tren-non-cao-y-ty-post899891.html

Nguồn: Như Mây - Nguyễn Đình Hiếu (Báo Lào Cai điện tử), Thứ Ba, ngày 19/05/2026 - 19:50 (GMT+7)

Tin Liên Quan

Lào Cai tổ chức chuỗi hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026

UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch về tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn tỉnh năm 2026 và giai đoạn 2026–2030. Trong năm 2026, các hoạt động được triển khai với định hướng “Sắc màu văn hóa Lào Cai”, nhằm tôn vinh bản...

Chủ động bảo vệ rừng mùa khô hanh

Trước diễn biến thời tiết khô hạn, tỉnh đang triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, trong đó chú trọng củng cố lực lượng tại chỗ, tăng cường kiểm tra, giám sát và nâng cao ý thức người dân, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Lào Cai: Mở mới, mở rộng gần 469 km đường giao thông nông thôn

Thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TU về phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040, tỉnh Lào Cai đang tập trung huy động các nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ mở mới, nâng cấp, kiên cố hóa hệ thống đường giao thông nông thôn, từng bước hoàn thiện hạ tầng kết nối, tạo động lực...

Làm giàu nơi cuối nguồn sông Chảy

Trên vùng đất dọc hai bên sông Chảy, phía hạ lưu đập thủy điện, những nông dân của xã Thác Bà đang phát huy thế mạnh đa dạng của vùng đất này để tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội. Nhiều hội viên Hội Nông dân xã đổi mới tư duy, trở thành những hộ sản xuất, kinh doanh giỏi, đóng góp tích cực vào sự...

Làm giàu nơi cuối nguồn sông Chảy

Trên vùng đất dọc hai bên sông Chảy, phía hạ lưu đập thủy điện, những nông dân của xã Thác Bà đang phát huy thế mạnh đa dạng của vùng đất này để tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội. Nhiều hội viên Hội Nông dân xã đổi mới tư duy, trở thành những hộ sản xuất, kinh doanh giỏi, đóng góp tích cực vào sự...

Nguồn lực Nhà nước khơi nội lực Nhân dân

Với hơn 46% hộ nghèo và cận nghèo cùng phương thức sản xuất nhỏ lẻ, công tác giảm nghèo ở xã Nậm Có từng đối mặt với rào cản lớn bởi tư tưởng trông chờ, ỷ lại của một bộ phận người dân. Phá vỡ những trì trệ này, xã đã thay đổi cách làm: triển khai các dự án sinh kế và mô hình sản xuất xuất...