Việt Nam giảm dần nhập siêu từ ASEAN

Trong giai đoạn 2005 - 2015, Việt Nam luôn nhập siêu trong buôn bán với các nước thành viên ASEAN. Tuy nhiên, do tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng nhập khẩu từ thị trường này nên tỉ lệ nhập siêu từ ASEAN giảm dần.

Thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy trong giai đoạn 2005 - 2008, trị giá buôn bán hàng hoá hai chiều tăng bình quân khoảng 26%/năm. Cụ thể trong năm 2005, tổng kim ngạch hàng hóa xuất n​hập khẩu giữa Việt Nam - ASEAN chỉ đạt 14,91 tỉ USD, trong khi đó con số này của năm 2008 là 29,77 tỉ USD, tăng gấp 2 lần so với năm 2005. Trong năm 2009, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tổng trị giá giao thương giữa Việt Nam - ASEAN chỉ đạt 22,89 tỉ USD, giảm 24% so với năm trước đó.

Tuy nhiên giai đoạn 2010 - 2012, thương mại hàng hóa giữa Việt Nam - ASEAN hồi phục trở lại với mức tăng trưởng 2 con số, tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn này đạt 19%/năm. Cụ thể trong năm 2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN lên đến con số 38,7 tỉ USD. Từ năm 2013 đến nay, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và ASEAN vẫn đạt được tăng trưởng dương nhưng có dấu hiệu chậm lại.

Cụ thể trong năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 40,1 tỉ USD, tăng 3,5%; năm 2014 đạt 42,85 tỉ USD, tăng 6,9% và tính đến 11 tháng từ đầu năm 2015 đạt con số 39,2 tỉ USD, chỉ tăng nhẹ 0,1% so với kết quả thực hiện cùng kỳ năm trước.

Về cơ cấu xuất khẩu, trước năm 2010, các mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất sang thị trường ASEAN là dầu thô và gạo, chiếm khoảng trên 50% tổng kim ngạch.
 
Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam - ASEAN
giai đoạn 2005 - 2014 và 11 tháng của năm 2015



Nguồn: Tổng cục Hải quan

Kể từ năm 2010, mặt hàng xuất khẩu sang ASEAN rất đa dạng phong phú. Ngoài 2 nhóm hàng truyền thống dầu thô và gạo xuất, các doanh nghiệp ở Việt Nam còn phát triển xuất khẩu nhiều nhóm hàng như điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép các loại, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng. Một số sản phẩm xuất khẩu là thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam như hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, cao su cũng đã được đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường ASEAN.

Trong nhiều năm qua, chiếm tỉ trọng trên 60% kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN chủ yếu là những mặt hàng thiết yếu, nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước như: Xăng dầu các loại; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; chất dẻo nguyên liệu; giấy; gỗ và sản phẩm gỗ; hàng điện gia dụng và linh kiện; linh kiện và phụ tùng ô tô; hóa chất và sản phẩm hóa chất…

Đáng chú ý, giai đoạn 2005 - 2015, Việt Nam luôn nhập siêu trong buôn bán với các nước thành viên ASEAN. Tuy nhiên, do tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng nhập khẩu từ thị trường này nên tỉ lệ nhập siêu từ ASEAN giảm dần. Cụ thể, năm 2005 có thâm hụt 3,9 tỉ USD, với tỉ lệ nhập siêu là 70,1%; đến năm 2010 thâm hụt 6 tỉ USD, với tỉ lệ nhập siêu là 57%; năm 2014 thâm hụt 4 tỉ USD, với tỉ lệ nhập siêu giảm xuống còn 20,3%. Trong 11 tháng tính từ đầu năm 2015, do kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 16,8 tỉ USD, giảm 6,3% và kim ngạch nhập khẩu đạt 22,4 tỉ USD, tăng 5,5% nên mức thâm hụt thương mại là 5,6 tỉ USD, tăng % so với cùng kỳ năm 2014 và tỉ lệ nhập siêu là 33,5%. Đến nay, ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam (sau Trung Quốc).

Về xuất khẩu, ASEAN là thị trường lớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam (sau Hoa Kỳ và EU), ở chiều ngược lại, ASEAN là đối tác thương mại cung cấp nguồn hàng hoá lớn thứ 3 cho các doanh nghiệp Việt Nam (sau Trung Quốc và Hàn Quốc).

Trong những năm tới, cùng việc gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với 600 triệu dân, gia tăng xuất khẩu trong nội khối cũng như với các đối tác bên ngoài, thu hút đầu tư nội khối và từ các đối tác bên ngoài. Đây sẽ là bàn đạp để Việt Nam trưởng thành và tham gia vào những hiệp định thương mại tự do rộng lớn hơn như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hay Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU./.
Theo Minh Khôi/chinhphu.vn

Tin Liên Quan

Những quyết sách vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tập trung đưa Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết chiến lược của Đảng vào cuộc sống; đồng thời tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy sau một cuộc cách mạng sâu rộng.

Nỗ lực đưa áo dài Việt Nam trở thành di sản văn hóa được UNESCO ghi danh

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đề nghị Hiệp hội Văn hóa Áo dài Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đẩy nhanh việc xây dựng hồ sơ đề cử UNESCO ghi danh áo dài Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Công bố kết quả bước đầu giải mã 1.000 hệ gen người Việt: Nền tảng cho y học chính xác và xác định ADN

Lần đầu tiên, các nhà khoa học Việt Nam xây dựng thành công bộ dữ liệu hệ gen người Việt quy mô lớn cùng hệ gen tham chiếu quần thể dành riêng cho người Việt. Công trình vừa được công bố trên Nature Communications - một trong những tạp chí khoa học uy tín hàng đầu thế giới, mở ra nền tảng quzan trọng cho...

Công bố sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên của Việt Nam

Trong giai đoạn phát triển mới, khi đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc chủ động nguồn cung nhôm kim loại trong nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nguồn nhôm ổn định trong nước sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, hạn chế rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, cải thiện...

Đổi mới công tác đối ngoại nhân dân, kiến tạo sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam

Hướng tới Hội nghị Ngoại giao 33 và Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc 22 sắp tới, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ngô Lê Văn đã có bài viết về công tác đối ngoại nhân dân: "Đổi mới công tác đối ngoại nhân dân, góp phần kiến tạo sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam."

Nâng tầm hạ tầng số, mở đường cho kỷ nguyên phát triển mới

Để tạo động lực tăng trưởng cho giai đoạn mới của đất nước, Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng số hiện đại, phổ cập Internet chất lượng cao, xây dựng các trung tâm dữ liệu quy mô lớn để hình thành nền tảng dữ liệu quốc gia.