Huy Thức và thơ

Nói về Huy Thức, trước tiên phải nói đến ảnh. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống chụp ảnh ở Thành Nam, tham gia kháng chiến chống Mỹ, lên tới chức Tiểu đoàn phó thì bị thương, phải ra Bắc điều trị. Rời quân ngũ, ông lại nối tiếp công việc nhiếp ảnh dịch vụ của gia đình, rồi duyên tình đưa ông đến với Lào Cai. Được sống ở mảnh đất mới đầy màu mỡ cho những người làm văn học, nghệ thuật, cái chất nghệ sỹ nhiều năm nuôi dưỡng trong ông dần dần được tỏa sáng, đỉnh cao về nhiếp ảnh của ông là huy chương vàng, bạc khu vực Tây Bắc - Việt Bắc, giải thưởng Phan Si Păng của tỉnh Lào Cai.

Đấy là con đường sáng tác ảnh, còn thơ. Bài thơ đầu tiên của ông là bài mà ông nổi hứng lột tóc giả ném xuống bàn trong đêm thơ Tằng Loỏng. Ông bảo, sự cổ vũ “nổ trời” đêm đó đã dẫn ông vào đời. Mà quả thật, vốn nổi tiếng khắp Phố Lu là người làm ảnh, ham vui, quảng giao, lại đúng vào lúc chữ nghĩa lên ngôi nên ông nổi như cồn là phải.

Ông Huy Thức vẫn đam mê thơ và nhiếp ảnh.

Hồi đó, Huy Thức dẫn tôi đi khắp những nơi mà ông quen biết, đến nơi nào, nhà nào cũng thơ, cũng rượu, cũng những lời có cánh đưa con người lên mây. Những ngày đó người ta yêu thơ đến mức có người “quan trọng” vỗ vai an ủi tôi: “Người ta bảo “Lập thân tối hạ thị văn chương” nhưng nhà thơ đừng buồn, trong ba cái lập nhớn ở đời thì lập ngôn, trong đó có lập văn chương đứng cuối chứ không phải văn chương là hèn hạ đâu”. Tôi đồ rằng ông “quan trọng” này không rõ xuất xứ và ý nghĩa của hai câu thơ của nhà thơ Viên Mai nổi tiếng đất Hàng Châu (Trung Quốc): “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch/Lập thân tối hạ thị văn chương” (Mỗi bữa không quên ghi thẻ trúc/Lập thân thấp (hèn) nhất ấy văn chương), nhưng có người yêu thơ, yêu mình như thế là quý như vàng rồi.

Ở tuổi ngoại 70, đã từng xông pha nơi bom đạn, mang vết thương chiến tranh trong người, Huy Thức đã trải nghiệm, chứng kiến quá nhiều đau thương, mất mát, nhưng ông không bi lụy, quá khứ cùng những biến động của cuộc sống dường như không ảnh hưởng tới tính cách hồn hậu, vô tư trong đời cũng như trong thơ ông.

Viết về người cha liệt sỹ, ông viết: “… Ngày giỗ cha mẹ hay cúng cá/Mong hồn thiêng đừng lặn lội sông hồ/Thương cha lắm/Giấy tiền, vàng mã/Biết thiếu gì?, dưới lớp cỏ non tơ…” - Gửi người cha liệt sỹ.

Viết về người em nằm lại ở chiến trường, ông viết: “… Em ở đâu?/Năm mươi năm đằng đẵng/Mãi không về/Nước mắt mẹ cạn khô/Em vẫn tuổi hai mươi - anh Bộ đội Cụ Hồ…” - Gửi em.

Viết người bạn già nửa đời người phấn đấu mới được đứng trong hàng ngũ của Đảng, ông chia sẻ: “Bạn tôi/Hạnh phúc - tự hào/Sự nghiệp trăm năm góp nhiều hoa trái/Người trí thức già/Mái tóc pha sương/Cuộc đời như trẻ lại/Bạn tôi/Như tấm gương soi” - Bạn tôi vào Đảng.

Chứng kiến cảnh nghiệt ngã của hai vợ chồng chia tay nhau, ông thốt lên: “Tàu cạn - máng khô rồi/Nhờ toà án chia bôi/Họ nhặt nhạnh lên/Nhà - cửa - chiếu - chăn/ giường - chảo - xoong - nồi/Còn một thứ không bổ đôi chia được: Con…” - Chia bôi.

Và nữa, đó là những vần thơ tự sự, không trốn tránh góc khuất của đời mình. Cuộc đời đưa đẩy ông suốt đời phải gánh hai vai, rất may tính xuề xòa, đôn hậu, vô tư của ông luôn trùm lên làm bóng mát, lấy lại thế bình quân cho hai ngôi nhà nhỏ mà to, to mà nhỏ của ông.

Trong thơ Huy Thức, nhiều bài còn thiếu cái xuất thần, cái ảo, nhưng bù lại, nhiều bài thơ của ông thật thà, ca ngợi cái hay, cái đẹp của con người cụ thể, vùng đất cụ thể và đôi khi những vần thơ thô mộc lại có hiệu quả bất ngờ.

Sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu từng nhắn nhủ: “Trong văn nghệ, trong thơ phải chân, nghĩa là mình có bao nhiêu tâm hồn thì viết bấy nhiêu, đừng gắng hơi, đừng cố mượn hơi ở đâu, ở người khác mà thổi vào cái bong bóng của mình; Phải chân chứ đừng định đánh lừa người đọc, phải chân như cái hương tự nhiên của tâm hồn”. Có lẽ đâu đó Huy Thức đã lĩnh hội được lời nhắn nhủ này. Sự hiển lộ trong thơ của ông dù có số bài khiêm tốn, có bài thô nhám, đói từ, có bài thiếu vắng những ý tứ sâu sắc, nhưng chắc chắn có sự chân thật bao trùm lên và đó mới là Huy Thức.

Trong tự nhiên, mỗi loài hoa sinh ra đều có lý lẽ, sự kiêu hãnh, biểu lộ sự sinh tồn và đóng góp với đời khác nhau, mong trong vườn hoa trăm hoa đua nở, thơ của Huy Thức sẽ là những bông hoa tự nhiên.

https://baolaocai.vn/bai-viet/346335-huy-thuc-va-tho

 

Theo LCĐT

Tin Liên Quan

Nhịp cầu gắn kết cộng đồng

Trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa Du lịch Mường Lò, từ 17h30 ngày 16/10, dọc trục đường Điện Biên - Nguyễn Quang Bích - sân vận động Nghĩa Lộ, bắt đầu màn lễ hội đường phố sinh động, đậm đà bản sắc.

Người giữ “hồn” khèn Mông ở Hạnh Phúc

Bằng tình yêu tha thiết với văn hóa dân tộc, ông Hờ A Thào (sinh năm 1974), ở thôn Tà Xùa, xã Hạnh Phúc, đã dành nhiều tâm huyết truyền dạy nghệ thuật thổi khèn, múa khèn Mông cho thế hệ trẻ.

Lào Cai: Triển lãm ảnh chào mừng Tuần Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Hưởng ứng Tuần Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 và hướng tới kỷ niệm 5 năm Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại (15/12/2021 - 15/12/2026), Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức hai triển lãm ảnh nghệ thuật quy mô lớn.

Hương cốm Hợp Thành - Giữ nghề xưa, thêm sinh kế mới

Từ những bông lúa nếp vừa độ chín tới, đồng bào Tày ở Hợp Thành, tỉnh Lào Cai, vẫn gìn giữ nghề làm cốm qua nhiều thế hệ. Nay, thức quà dân dã ấy không chỉ lưu giữ hương vị truyền thống mà còn trở thành sản phẩm hàng hóa, giúp người dân tăng thu nhập.

Biểu tượng văn hóa độc đáo của người Thái đen

Trên những nếp nhà sàn truyền thống ở Mường Lò, Khau cút là dấu ấn kiến trúc đặc trưng của đồng bào Thái đen. Không đơn thuần là chi tiết trang trí, Khau cút còn chứa đựng những câu chuyện về cội nguồn, cộng đồng và cách người Thái gửi gắm dấu ấn văn hóa trên chính ngôi nhà của mình.

Nơi hạt cốm kết tinh bản sắc văn hóa

Ở Hợp Thành, cốm không đơn thuần là sản vật từ mùa lúa nếp non, mà còn gắn với phong tục tri ân tổ tiên và nghi lễ Then pang mẩu của người Tày. Trên nền tảng văn hóa ấy, sự giao thoa giữa các dân tộc Tày, Dao đỏ, Xá Phó cùng cộng đồng cư dân địa phương tạo nên sắc thái riêng cho Lễ hội Cốm, góp phần...