Hai ngôi đền chung mạch nguồn văn hóa

Trải qua dòng chảy của thời gian và sự biến thiên của lịch sử, hai di tích cổ là đền Trung Đô (Bảo Nhai - Bắc Hà) và đền Nghĩa Đô (Bảo Yên) vẫn chung mạch nguồn văn hóa.

 

Từ thành cổ Trung Đô...

Ngược dòng thời gian và chặng đường dài để đến với vùng “Cao nguyên trắng” Bắc Hà, chúng tôi dừng chân ở xã Bảo Nhai, nơi có ngôi đền linh thiêng, cổ kính - đền Trung Đô. Ngôi đền tọa lạc trên một vùng đất bằng phẳng, phía trước là dòng suối trong mát, hiền hòa, phía sau là ngọn núi cấm cao sừng sững, rợp bóng cổ thụ, cư dân quanh vùng vẫn gọi là “Rừng cấm”.

den-trung-do-o-bac-ha-lao-cai.jpg
Đền Trung Đô (Bảo Nhai - Bắc Hà).

Theo tư liệu lịch sử, ngôi đền Trung Đô được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII để tri ân công lao to lớn của những người đã có công với vùng đất này. Các vị tướng được thờ là Khánh Dương Hầu Vũ Văn Uyên, Gia Quốc Công Vũ Văn Mật, tướng Hoàng Vần Thùng. Đó là những vị tướng giỏi, tài ba thời nhà Lê, quê ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Họ dời quê hương vào thế kỷ XVI, dừng chân ở vùng đất Tuyên Quang rồi từ đó, khai phá những miền đất mới, mở rộng địa bàn lên đến vùng Bảo Yên, Bắc Hà (Lào Cai). Đi đến đâu, các tướng xây thành bằng đá vững chắc, đến nay, vẫn còn dấu tích của thành cổ. Các vị tướng này đã có công phát triển kinh tế - xã hội, giúp vua Lê đánh đuổi quân nhà Mạc từ vùng Đông Bắc tràn sang, chặn giặc phương Bắc, bảo vệ bờ cõi miền biên ải.

den-trung-do-la-khong-gian-thuc-hanh-tin-nguong-tho-chua-bau-o-vung-tay-bac.jpg
Đền Trung Đô là không gian thực hành tín ngưỡng thờ Chúa Bầu ở vùng Tây Bắc.

Nhân dân quanh vùng vẫn thường gọi họ là “Chúa Bầu” để ca ngợi đức độ, tài năng, khí tiết của họ. Khi các Chúa Bầu mất, Nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ, hương khói phụng thờ. Với giá trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, đền Trung Đô đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích cấp quốc gia vào tháng 8/2005. Cũng từ đó, tín ngưỡng thờ Chúa Bầu đã được đồng bào dân tộc Tày và các dân tộc trong vùng duy trì, thực hành, đồng thời lan tỏa đến các vùng khác dọc miền sông Chảy.

… đến thung lũng Mường Khuông

Từ đền Trung Đô thuộc vùng đất Bảo Nhai, theo hướng xã Bản Liền rồi chạm đến vùng đất Tân Tiến của huyện Bảo Yên, chúng tôi vượt qua chặng đường dài hơn 100 km gian nan với bao con suối, bao ngọn núi cao để về Mường Khuông.

Thung lũng Mường Khuông là nơi quần tụ của đồng bào dân tộc Tày từ lâu đời. Bao bọc xung quanh các bản làng nơi đây là những ngọn núi cao trùng điệp như Khau Rịa, Khau Choong, Khau Ái. Dưới chân núi Pú Chè cao sừng sững, hướng nhìn ra dòng Nặm Luông trong mát là ngôi đền Nghĩa Đô, một điểm nhấn tâm linh trong đời sống của cư dân nơi đây.

Theo lời kể của Nghệ nhân Ưu tú Ma Thanh Sợi (Bản Rịa, Nghĩa Đô, Bảo Yên) và tư liệu lịch sử, vào những năm 1740 - 1760 ở vùng đất Mường Khuông, nạn cướp bóc, giết chóc diễn ra triền miên do những kẻ ở vùng khác gây nên. Điều đó dẫn đến sự bất an trong đời sống tinh thần và nạn đói, thiên tai, địch họa luôn hiện hữu trong cuộc sống của người dân. Vì vậy, những người cao niên cùng đàn ông trong các bản của Mường Khuông đã họp bàn, đi cầu về một vị nhân thần, để lập đền thờ làm điểm tựa tâm linh. Đây cũng là ý tưởng và hành động bắt đầu cho hành trình ngược Bắc Hà xin nhánh đền Trung Đô.

den-nghia-do-khong-gian-tam-linh-minh-chung-cho-su-giao-thoa-van-hoa-cua-hai-ngoi-den-8202.jpg
Đền Nghĩa Đô, không gian tâm linh minh chứng cho sự giao thoa văn hóa của hai ngôi đền.

Hành trình đi xin nhánh đền ở Trung Đô của người dân Mường Khuông khá dài và gian nan, kéo dài nhiều năm mới thành công. Sau khi xin được nhánh đền Trung Đô trở về, người dân Mường Luông phải trải qua một năm tìm đất để dựng đền. Đến năm Canh Tuất (1850), người dân nơi đây mới tìm được vị trí đất địa linh dưới chân núi Pú Chè theo hướng mặt trời mọc, nhìn thẳng ra dòng Nặm Luông (vị trí của ngôi đền được phục dựng ngày nay). Người dân Mường Khuông thường tổ chức diễn xướng nghi lễ thờ Chúa Bầu thông qua việc thờ cúng, lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa, tâm linh của dân tộc Tày. Cũng từ đó, người dân Mường Khuông đã tìm được điểm tựa tâm linh trong niềm tin tín ngưỡng và lòng biết ơn công lao của Chúa Bầu.

Để tỏ lòng biết ơn với Trung Đô, nhằm tạo sợi dây tình nghĩa giữa hai vùng đất, người dân trong bản Tày Mường Khuông đã quyết định đổi tên vùng đất này từ “Mường Khuông” thành “Nghĩa Đô” (tiếng Tày: Nghĩa là tình nghĩa, Đô gắn với địa danh Trung Đô). Trải qua nhiều năm sưu tầm, tôn tạo, phục dựng, năm 2016, đền Nghĩa Đô được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh, ngày 14 tháng 7 âm lịch hằng năm là ngày tế đền.

Chung mạch nguồn văn hóa

Hành trình tìm về lịch sử của đền Trung Đô (Bắc Hà) và Nghĩa Đô (Bảo Yên) là tìm về mạch nguồn văn hóa trong sự giao thoa giữa hai ngôi đền. Hai ngôi đền đều là không gian thực hành tín ngưỡng thờ Chúa Bầu - các vị tướng có công lao to lớn với Nhân dân, với bờ cõi miền biên ải. Đây là một tín ngưỡng nổi bật ở vùng Tây Bắc, được đồng bào dân tộc Tày và một số dân tộc khác thực hành, lan tỏa trong đời sống văn hóa, tinh thần và là bệ đỡ tâm linh của Nhân dân.

nd8.jpg
nd9a.jpg
Lễ hội đền Nghĩa Đô được đồng bào dân tộc Tày tổ chức với các nghi lễ truyền thống. Ảnh: Hoàng Thương

Hằng năm, lễ hội của hai ngôi đền được đồng bào dân tộc Tày tổ chức với các nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc như lễ rước kiệu trâu, lễ cúng tế trâu, lễ hội cầu đền và các lễ vật như xôi, gà, rượu, bánh, lễ dâng cốm, các lễ hội mùa xuân… cùng các hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền.

le-hoi-den-trung-do-1-424184617.jpg
Người dân dâng lễ tại lễ hội. Ảnh: Vân Anh
 
le-hoi-den-trung-do-1-281338658.jpg
Lễ hội đền Trung Đô hằng năm diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc. Ảnh: CTV

Hai vùng đất còn lưu giữ chứng tích thành cổ quan trọng về quá trình khai khẩn, phát triển kinh tế và bảo vệ bờ cõi của anh em Chúa Bầu. Những trầm tích lịch sử, văn hóa này là minh chứng cho quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước của cha ông ta trong quá khứ hào hùng. Bởi vậy, hai ngôi đền còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí xây dựng quê hương đất nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

https://baolaocai.vn/hai-ngoi-den-chung-mach-nguon-van-hoa-post397662.html

Nguyễn Thế Lượng/Báo Lào Cai điện tử

Tin Liên Quan

Nét đẹp cúng rừng của người Mông Tổng Kim

Từ nhiều đời nay, đồng bào Mông ở thôn Tổng Kim, xã Nghĩa Đô vẫn duy trì lễ cúng rừng vào dịp đầu năm. Không chỉ gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, nghi lễ còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ rừng, gắn kết cộng đồng và củng cố tình đoàn kết trong thôn bản.

Khi di sản được gìn giữ từ cộng đồng

Với 34 nhóm ngành dân tộc cùng sinh sống, Lào Cai là vùng đất hội tụ nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc. Không chỉ hiện diện trong các không gian bảo tồn hay lễ hội, những giá trị ấy đang được gìn giữ một cách bền bỉ trong đời sống hằng ngày bởi chính cộng đồng người dân...

Hạnh phúc - Nguồn cảm hứng bất tận trong văn chương

Hạnh phúc trong văn chương không chỉ là đích đến, mà là hành trình đầy xúc cảm được dệt nên từ chất liệu của cuộc sống. Bằng ngôn từ và hình tượng nghệ thuật, các tác giả đã không ngừng kiếm tìm và tôn vinh giá trị hạnh phúc, để mỗi tác phẩm là đóa hoa thơm dâng tặng cho đời.

Rộn ràng chương trình văn nghệ, lan tỏa tinh thần ngày hội bầu cử

Không khí rộn ràng, tươi vui lan tỏa khắp các khu dân cư khi chương trình giao lưu văn nghệ chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 được tổ chức, thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân phường Cam Đường tham gia cổ vũ.

Gìn giữ múa Mường

Trong đời sống của đồng bào Mường, các điệu múa truyền thống không chỉ là nghệ thuật biểu diễn mà còn là cách lưu giữ ký ức cộng đồng. Qua bao thế hệ, những bước múa mộc mạc nhưng giàu sức biểu đạt vẫn “sống” mãnh liệt, góp phần khẳng định bản sắc riêng văn hóa Mường tại vùng đất Liên...

Người thắp lửa đam mê nhạc cụ dân tộc

Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, khi những giai điệu sôi động của âm nhạc đương đại chiếm ưu thế, tại Trường Cao đẳng Nghề Yên Bái, vẫn có một người phụ nữ lặng lẽ nhưng bền bỉ gìn giữ và lan tỏa giá trị của âm nhạc truyền thống. Đó là cô giáo Trần Huyền Trang. Với cô, tiếng...