Người Nùng thôn Na Đẩy trăn trở giữ nghề đan lát

Thôn Na Đẩy, xã Mường Khương có 153 hộ dân với trên 620 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Nùng sinh sống qua nhiều thế hệ. Trước đây, đa số hộ dân trong thôn làm nghề đan lát, sản phẩm bán ra khắp các chợ phiên trong vùng, nhưng hiện nay chỉ còn một số người cao tuổi trong thôn vẫn giữ nghề truyền thống của dân tộc.
g1.jpg

 

Năm nay 81 tuổi, đôi mắt đã mờ, cái lưng đã còng rạp, đôi tay không còn nhanh nhẹn, khỏe khắn như trước, nhưng hằng ngày ông Lù Chẩn Pháng, dân tộc Nùng, thôn Na Đẩy, xã Mường Khương vẫn làm công việc đã gắn bó với ông gần 60 năm qua. Đó là ngồi đan những chiếc địu trúc - vật dụng quen thuộc của đồng bào các dân tộc vùng cao Mường Khương. Mặc dù công việc đan lát mất nhiều thời gian, mỗi tuần chỉ bán được vài chiếc địu ở chợ phiên, thu nhập chẳng đáng là bao, nhưng ông Pháng vẫn cố gắng giữ nghề truyền thống của dân tộc.

3.jpg

 

Đôi tay nhăn nheo chẻ cây trúc dài gần 3 m thành từng chiếc nan mỏng, rồi lại nâng niu chuốt từng sợi nan cho bóng mịn, ông Pháng kể, 15 tuổi ông đã theo bố lên rừng chặt vầu, chặt trúc về đan cái địu, tiếng Nùng gọi là “an pa”. Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Mường Khương, chiếc địu là vật dụng gần gũi nhất, vì đi lên nương bẻ ngô, lấy rau lợn, lấy củi, lấy măng, đi chợ mua bán hàng đều dùng đến cái địu. Trước đây, địu trúc được bà con mua nhiều, mỗi ngày ông Pháng làm một chiếc địu đều bán được, nhưng giờ đây nhiều người chuyển sang dùng địu nhựa của Trung Quốc, nên địu trúc khó tiêu thụ hơn.

Theo ông Pháng, để làm được chiếc địu trúc phải trải qua nhiều công đoạn. Trước hết, phải chọn được cây trúc to từ 1 đến 2 năm tuổi, gióng trúc dài, thẳng, thì chẻ nan mới đẹp và dẻo. Để có chiếc nan trúc phải chẻ làm 3 lần, thêm 1 lần chuốt nan cho mịn. Đan một chiếc địu cần đến 16 đôi nan dài 2,5 m thì mới đủ. Khó nhất là phần đáy địu và vành địu phải quấn các vòng nan trúc thật chặt, bện lại như dây thừng, thì địu mới chắc chắn.

Cách nhà ông Pháng không xa là ngôi nhà của gia đình ông Lý Văn Toàn. Năm nay đã 75 tuổi, nhưng ông Toàn vẫn miệt mài với việc đan những chiếc ky lọc cơm, tiếng Nùng gọi là “pa chí”, hình dạng gần giống với chiếc rá mọi gia đình vẫn dùng để đãi gạo. Những chiếc ky của ông Toàn làm ra từ cây tre, cây trúc rất bền, đẹp nên trước đây được nhiều người tìm mua, thậm chí cả người dân ở khu vực Bảo Yên, Yên Bái cũng tìm đến mua.

Ông Lý Văn Toàn chia sẻ: “Khi nấu cơm, nấu rượu bà con vẫn dùng chiếc “pa chí” này để đựng gạo, đựng cơm cho ráo nước. Để làm được một chiếc “pa chí” bền, đẹp phải rất kỳ công, vất vả. Vành “pa chí” và bộ khung cần độ cứng thì làm bằng cây tre, lòng “pa chí” đan bằng nan trúc nhỏ, được bện bằng dây mây bền chắc, dùng hàng chục năm vẫn không hỏng. Sau khi mỗi chiếc “pa chí” được đan xong sẽ được cho lên gác bếp để sấy cho khô, ám hơi khói, không loài mối mọt nào dám ăn”.

4.jpg

 

Cầm trên tay chiếc “pa chí” bền, đẹp của người nghệ nhân cả đời gắn bó với nghề đan lát, tôi hiểu mỗi sợi nan, mỗi nút dây mây đều thấm đầy tâm huyết của ông. Tùy theo kích thước to hay nhỏ, mỗi chiếc “pa chí” có giá từ 150 đến 250 nghìn đồng. Ngày trước bán “pa chí” không khó, nhưng hiện nay người mua cũng ít dần, chỉ từ tháng 8 trở đi vào mùa cưới, mùa Tết bà con mới tìm mua. Tại thôn Na Đẩy, ông Lý Văn Toàn là người duy nhất còn giữ nghề đan “pa chí”.

g2.jpg

 

Thôn Na Đẩy có 153 hộ dân với trên 620 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Nùng sinh sống qua nhiều thế hệ. Trước đây, đa số các hộ dân trong thôn làm nghề đan lát. Hiện nay, do nhu cầu của thị trường giảm, việc tiêu thụ các sản phẩm đan lát gặp nhiều khó khăn, nên nhiều gia đình không còn mặn mà với nghề đan mây tre. Mặt khác, thanh niên trong thôn mải đi làm xa để mưu sinh, chỉ còn một số người cao tuổi trong thôn còn giữ nghề truyền thống của dân tộc.

Mặc dù nghề đan lát ở thôn Na Đẩy gặp nhiều khó khăn, thu nhập thấp, công việc đòi hỏi thời gian, sự khéo léo, tỉ mỉ, nhưng ngày qua ngày một số người cao tuổi trong thôn như các ông Lù Chẩn Pháng, Lý Văn Toàn, Hoàng Phù Vàng vẫn miệt mài với từng sợi nan tre, nan trúc bằng tình yêu nghề và hi vọng có thể truyền nghề cho thế hệ sau.

uu.jpg

 

Trò chuyện với chúng tôi, ông Hoàng Phù Vàng, 73 tuổi chia sẻ, ngày trước, khi cả làng làm nghề đan lát, để có được cây trúc đan địu ông phải đi 20 cây số vào thôn Sao Cô Sỉn, xã Nấm Lư cũ để lấy trúc. Vì muốn thôn có nhiều cây trúc cho thế hệ sau đan lát, ông đã xin giống trúc về, trồng cả một đồi trúc. Đến nay sau chục năm, rừng trúc đã xanh tốt, nhưng lớp trẻ thì không ai học nghề, làm nghề đan mây tre nữa. “Bây giờ trồng được cây trúc rồi, tôi muốn cho lớp trẻ học để biết đan chiếc địu của dân tộc, giữ hồn tre, trúc, giữ bản sắc dân tộc” - ông Vàng tâm sự.

Theo ông Thền Lồ Sơn - Trưởng thôn Na Đẩy, xã Mường Khương, nghề đan lát của người Nùng đã có từ rất lâu. Ngày đó, trong làng Na Đẩy, người nào cũng biết đan, nhưng hiện tại nghề đan lát đang có nguy cơ mai một dần, không còn nhiều hộ dân làm nữa. Để nghề mây tre đan không mất đi, cần có đầu ra ổn định cho các sản phẩm. Người dân cần quan tâm đến việc dùng địu trúc vừa bền đẹp, vừa thân thiện với môi trường, thay vì dùng địu nhựa khi hỏng sẽ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Cùng với đó, cần động viên, khích lệ những nghệ nhân tâm huyết với nghề truyền thống hiện đang giữ nghề, truyền nghề cho thế hệ trẻ.

Khi chúng tôi rời thôn Na Đẩy về phố, những cụ già người Nùng nơi đây vẫn miệt mài ngồi chuốt từng sợi nan bên thềm nắng. Thôn Na Đẩy hôm nay đã khoác lên “chiếc áo mới” với những ngôi nhà xây khang trang, nhưng những nét bản sắc truyền thống như nghề đan lát lại thưa vắng từng ngày và đứng trước nguy cơ mai một.

Ở thôn người Nùng nơi vùng cao Mường Khương, những người cao tuổi nhiều trăn trở, sẵn lòng truyền nghề cho giới trẻ, nhưng làm thế nào để giới trẻ cũng đam mê với nghề? Làm thế nào để các sản phẩm đan lát tiêu thụ ổn định góp phần nâng cao thu nhập cho người dân vẫn là câu hỏi chưa có lời đáp. Mong rằng xã Mường Khương sẽ có các giải pháp để bảo tồn nghề truyền thống, không để nghề đan lát bị mai một theo năm tháng.

https://baolaocai.vn/nguoi-nung-thon-na-day-tran-tro-giu-nghe-dan-lat-post889522.html

Nguồn: Tuấn Ngọc - Tất Đạt (Báo Lào Cai điện tử), Thứ Ba ngày 23/12/2025 - 16:11 (GMT+7)

Tin Liên Quan

Ngựa trong văn hóa dân gian người Nùng Dín

Với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, con ngựa là vật nuôi gần gũi, thân thiết trong mỗi gia đình. Dù không là "đầu cơ nghiệp" nhưng ngựa cũng được xem là tài sản có giá trị. Người vùng cao nuôi ngựa làm phương tiện thồ hàng, làm sức kéo, thậm chí để đua tài trong dịp lễ hội truyền thống... Sự...

Từ vó ngựa trên cao nguyên trắng đến Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Bắc Hà những ngày đầu năm mới, quyến rũ bởi mây sương bàng bạc, khí hậu ôn hòa quanh năm, sản vật quý và kho tàng văn hóa đậm bản sắc của người Mông, Dao, Tày… Nơi đây, tiếng vó ngựa là nhịp sống, là niềm kiêu hãnh của người dân.

Đặc sắc phong tục đón Tết của người Dao đỏ Phúc Lợi

Hằng năm, khi hoa đào, hoa mận bung nở khoe sắc thắm ở các sườn đồi, cũng là lúc làn gió mùa xuân đang đến, người Dao đỏ xã Phúc Lợi, tỉnh Lào Cai lại nô nức chuẩn bị đón năm mới với những phong tục, tập quán mang đậm bản sắc văn hóa riêng của người Dao đỏ.

Ăn Tết ở bản

Không đơn thuần là đi du lịch, nghỉ dưỡng, dịp Tết, nhiều du khách trong và ngoài nước lựa chọn ăn Tết ở bản, hòa chung với nhịp sống dân dã, đậm đà bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc. Với họ, Tết thực sự là trải nghiệm đáng nhớ.

Ngựa thiêng trong tranh thờ người Dao

Trong không gian thờ tự của người Dao ở Lào Cai, bộ tranh thờ không chỉ là tác phẩm hội họa dân gian, mà còn hàm chứa tri thức, tín ngưỡng và lịch sử của cộng đồng. Trong đó, hình tượng ngựa vừa là vật nuôi quen thuộc, vừa là linh vật thiêng, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người Dao qua...

Khát vọng bay giữa trời xuân

Với đồng bào người Tày, người Dao ở Lào Cai, ném còn là trò chơi dân gian không thể thiếu trong dịp Tết đến, Xuân về. Ẩn trong những quả còn là giá trị nhân văn, mơ ước, khát khao năm mới có cuộc sống đủ đầy, ấm no.