Giữ hồn Krênh trên mảnh đất mây ngàn

“... Cuốc đất, đất ra hoa/ Trồng cây, cây ra quả/ Nương lúa lên bông mẩy hạt/ Bè bạn kéo đến, cầm tay nhảy/ Cùng múa hát dưới trăng…”. Giữa muôn trùng núi non, người Mông (Sa Pa) bao đời vẫn ngân cao tiếng hát về “báu vật” của dân tộc mình.

Sự tích Krênh nơi xứ sở trong mây

Đối với người Mông, âm nhạc như một gia vị không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần. Trong số những nhạc cụ của đồng bào nơi xứ sở trong mây này, khèn (hay còn gọi là Krênh) được coi là nét đẹp văn hóa đặc sắc và nổi bật nhất. Với họ, tiếng khèn là sợi dây tâm linh nối người sống với người đã khuất, là cây cầu bắc lời tỏ tình lứa đôi, là giai thoại cổ xưa được kể bằng giai điệu. Giữa phố núi sương mây giăng giăng, tiếng khèn vang lên, khi thì rắt réo, khi thì trầm bổng, mà tha thiết thấm đẫm tình đất, tình người.

Khèn (Krênh) - báu vật của người Mông trên mảnh đất mây ngàn.

Trong những sắc màu huyền ảo nhuốm màu truyền thuyết, người Mông kể cho con cháu đời sau về sự ra đời của khèn Mông: Xưa kia, trên bản Mông xa xôi có bảy cha con nhà nọ, ai cũng hát hay, thổi sáo giỏi. Sau mỗi buổi làm nương vất vả, họ thường ngồi bên nhau và thổi sáo, hát hò. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, người cha vì tuổi già, sức yếu đã qua đời. Từ đó, bản nhạc của sáu người con cũng rời rạc, trầm buồn. Dần dần, năm người anh cũng khuất núi, để lại người em út đơn côi. Vì nhớ thương cha và các anh, người em út mới nghĩ ra một cách là tìm một cái bầu, đục thành 6 lỗ to, nhỏ khác nhau, lấy sáu cây sặt luồn thật khít vào cái bầu đó. Khúc gỗ làm thân là cha, khúc sậy to nhất là anh cả, bốn khúc còn lại là anh hai, anh ba, anh tư, anh năm và khúc nhỏ nhất là em út. Sau khi đẽo gọt cẩn thận, tỉ mỉ, anh đem ra thổi. Kỳ lại thay, âm thanh phát ra hệt như âm thanh ngày xưa mấy cha con cùng thổi với nhau. Anh gọi nhạc cụ đó là khèn và đi đâu cũng mang theo. Mỗi khi mỏi mệt, nhớ cha và các anh, người em lại mang khèn ra thổi. Khi tiếng khèn ngân lên, người em có cảm giác như được quay lại những tháng ngày vui tươi xưa, được cùng cha và các anh tấu khèn trên núi. Cảm động trước tình cảm của gia đình anh, sau khi người em út qua đời, người dân trong bản trân trọng và nâng niu chiếc khèn như một báu vật.

Theo năm tháng, người Mông học cách làm khèn và sáng tác nhiều bài hát, bản nhạc và điệu múa, khiến cho chiếc khèn trở nên gần gũi với cuộc sống hơn. Dần dần, chiếc khèn gắn bó với cuộc sống sinh hoạt và lao động của người Mông như một người bạn không thể thiếu. Khèn được sử dụng thường xuyên và phổ biến trong cuộc sống, từ sinh hoạt hằng ngày cho đến lễ hội, nghi lễ tang ma. Vật liệu chế tạo khèn thường là những nguyên liệu tự nhiên. Cấu tạo của khèn gồm 2 phần chính: Ctnir krênh và tâuz krênh (Ống khèn và bầu khèn).

Chúng tôi đến thăm gia đình anh Thào A Tùng sinh sống ở thôn Sín Chải, xã Tả Giàng Phìn - một trong những hộ người Mông đã nhiều đời làm khèn. Anh Tùng cho biết: Muốn làm được một chiếc khèn phải lặn lội vào sâu trong rừng, vượt những dốc núi đá thẳng đứng để tìm sặt về làm vật liệu. Khi chọn sặt, người ta thường nắn vuốt xung quanh bề mặt cây, lấy cây sặt tròn đều, thân mượt, các đốt trong một cây dài bằng nhau, có như vậy thì mới đạt yêu cầu để làm khèn, tiếng khèn làm ra cũng thanh và vang xa hơn. Cây khèn cổ của người Mông thường được làm từ gỗ pơ mu. Sở dĩ, cây pơ mu được người Mông chọn để làm bầu khèn không chỉ vì có đường vân đẹp, chắc tay, mùi thơm dịu nhẹ như cỏ, mà nó gắn với mảnh đất Sa Pa. Pơ mu với dáng đứng thẳng tắp đầy kiêu hãnh như người Mông, dù mưa to, bão lớn cũng không thể làm gãy đổ. Loài cây này còn mang hơi thở của núi rừng, gắn liền với nguồn gốc của người Mông luôn làm nhà trên núi cao.

Người Mông phóng khoáng trong tính cách nhưng cũng rất cẩn thận trong việc chọn nguyên liệu làm khèn. Bởi theo họ, khèn là một vật linh thiêng, tượng trưng cho cả cộng đồng, nên những nguyên liệu làm khèn phải được chọn kỹ. Nguyên liệu có tốt thì khèn mới tốt được. Người Mông luôn quan niệm, họ sống với núi rừng thì chết cũng trở về với núi rừng, chỉ có núi rừng mới là người mẹ duy nhất của họ. Chính vì vậy, họ luôn kiếm tìm những vật liệu có sẵn trong thiên nhiên, là sản vật đặc biệt riêng có của đồng bào Mông để làm nên cây khèn quý. Có vậy mới biết, người Mông nơi đây tinh tế, cẩn trọng như thế nào.

Để Krênh vượt núi vang xa

Ngoài sự độc đáo trong cách làm nhạc cụ, Krênh còn khiến người ta mê đắm bởi những điệu múa rắn rỏi, khỏe khoắn, tràn đầy sức sống. Biểu diễn khèn là sự cộng hưởng hài hòa giữa động tác nhảy múa và nhạc, thường là những động tác như: Lộn nhào, xoay vòng, trồng chuối, múa bằng một chân, vừa đi, vừa múa. Những động tác này được sử dụng linh hoạt. Trong một bài khèn, người ta có thể múa nhiều điệu múa khác nhau.

Gắn bó với những điệu khèn từ khi sinh ra, với hơn 20 năm dày công khổ luyện, từ cậu bé theo cha học khèn, giờ đây anh Giàng A Sài, cán bộ Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Du lịch Sa Pa đang là một trong những nghệ nhân múa khèn đẹp nhất trên mảnh đất mù sương. Anh cho biết: Điều làm nên sự khác biệt của biểu diễn khèn Mông ở Sa Pa với những nơi khác, đấy là người Mông Sa Pa không bao giờ để khèn “chết”. Tiếng khèn ngân lên là lúc người ta nhảy múa theo âm thanh, giai điệu, khi tiếng khèn kết thúc cũng là lúc các động tác dừng lại. Chính vì vậy, người biểu diễn phải thổi liên tục, không ngừng nghỉ, không đứt quãng trong suốt cả bản nhạc. Do đó, để được một bản nhạc hay, hoàn chỉnh, nghệ nhân biểu diễn khèn cần có sự khéo léo, niềm đam mê cháy bỏng.

Làm khèn đòi hỏi sự kỹ lưỡng, công phu.

Hiện nay, trên địa bàn huyện Sa Pa, những nghệ nhân giỏi biết thổi và múa khèn chỉ còn lại 5, 6 người. Việc sử dụng và bảo tồn khèn Mông tại huyện vùng cao này ngày càng bất cập, thậm chí có nguy cơ mai một. Hình ảnh những chàng trai người Mông tay cầm cuốc, thuổng, lưng đeo gùi, vai đung đưa chiếc khèn trên những nẻo đường giờ chỉ còn trong hồi ức. Anh Giàng A Sài ngậm ngùi tâm sự: Học khèn khó lắm. Người có năng khiếu, chỉ mất vài tháng học thổi, học nhảy, nhưng có những người học chục năm vẫn chưa chắc nhịp. Học thổi khèn đã khó, học biểu diễn khèn còn khó hơn, vì thế, những nghệ nhân gắn cuộc đời mình với vũ điệu từ Krênh của người Mông ngày một ít. Những “cây đại thụ” gìn giữ điệu Krênh, như Lùng A Sèo, Giàng A Vàng, Giàng A Sài cũng không còn nhiều.

Năm 2010, Câu lạc bộ Khèn xã Sa Pả ra đời, với 30 thành viên tham gia, gồm nhiều lứa tuổi cùng có chung tình yêu và đam mê với khèn. Sau một thời gian, vì nỗi lo mưu sinh, kinh phí dành cho sinh hoạt của Câu lạc bộ ít dần và cạn kiệt, nên hoạt động của Câu lạc bộ cũng thưa vắng dần. Lớp thanh niên trẻ cũng không mấy người mặn mà với nghệ thuật truyền thống của người Mông, bởi muốn gắn bó với Krênh phải có cả tâm lẫn tài. Hơn nữa, khi cuộc sống đổi thay, điệu Krênh chỉ vang lên trong những ngày hội lớn, rồi xa vắng dần.

Ngày nay, lên Sa Pa, du khách thường mua khèn về làm quà, nhưng những thứ quà đó không còn được làm trau chuốt, tinh tế như trước kia. Những bài khèn biểu diễn trên đường phố hoặc trong một số lễ hội cũng khó làm say đắm lòng người bởi nhiều khi người biểu diễn vì mục đích thương mại nên đôi lúc nhịp khèn vội vã, lạc điệu.

Nhằm bảo tồn, phát huy nét văn hóa độc đáo của đồng bào nơi đây, hằng năm, huyện Sa Pa vẫn tổ chức hội thi khèn, sáo Mông vào dịp đầu xuân, việc biểu diễn khèn cũng thường được lồng ghép trong một số hoạt động du lịch của huyện. Tuy nhiên, việc bảo tồn nghệ thuật đặc sắc này hiện vẫn gặp nhiều bất cập. Chia sẻ về vấn đề này, ông Giàng Seo Gà, Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin huyện Sa Pa cho biết: Krênh là một trong những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Mông Sa Pa, nhưng hiện nay, Krênh bắt đầu bị thương mại hóa và có nguy cơ mai một. Khó khăn trong công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy điệu nhạc của người Mông là về kinh phí hoạt động và cơ sở đào tạo bài bản...

Người Mông thường có câu “Nghe khèn, biết khóc hay cười”, “khèn đem lại cái vui trong bụng”. Tiếng và điệu Krênh đang rất cần sự chung tay của các cấp, các ngành bảo tồn, lưu giữ, tránh cho “báu vật” của người Mông Sa Pa mai một theo năm tháng./.

Theo Quỳnh Trang/LCĐT

Tin Liên Quan

Lào Cai tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác văn hóa và quản lý, tổ chức lễ hội

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai vừa ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác văn hóa, quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh nhằm triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2025 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, phát huy vai trò của...

Hợp Thành đón Bằng xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh Đền Tượng

Sáng 30/6, UBND xã Hợp Thành tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh Đền Tượng; khánh thành Không gian trưng bày văn hóa các dân tộc và ra mắt Câu lạc bộ Văn hóa - Nghệ thuật - Thể thao nòng cốt xã Hợp Thành.

Đền thiêng dưới chân núi Đán Tượng

Giữa không gian thanh bình của vùng đất Hợp Thành, đền Tượng nép mình dưới chân núi Đán Tượng. Theo truyền ngôn qua nhiều thế hệ của người dân địa phương, xưa kia xuất hiện đàn voi rừng về đây kiếm ăn - hình thành địa danh Đán Tượng - nơi voi tụ hội.

Xã Nghĩa Đô phát động nhân rộng mô hình "Cổng đẹp, rào xanh, vườn rau tốt”

Ngày 29/6, Đảng ủy xã Nghĩa Đô tổ chức Lễ phát động nhân rộng mô hình “Dân vận khéo” với chủ đề “Cổng đẹp, rào xanh, vườn rau tốt”.

Khơi thông nguồn lực văn hóa từ di sản - Động lực phát triển du lịch bền vững ở Lào Cai

Trong tiến trình phát triển của mỗi địa phương, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng tạo nên sức mạnh cạnh tranh và động lực phát triển bền vững. Đối với Lào Cai - vùng đất hội tụ những giá trị văn hóa đặc sắc của 34 dân tộc anh em, việc phát huy...

Màn múa Sênh tiền kỷ lục Việt Nam: Nơi hội tụ bản sắc vùng cao Si Ma Cai

Trong khuôn khổ Lễ hội “Si Ma Cai - Hương sắc vùng cao”, xã Si Ma Cai đã làm nên Kỷ lục Việt Nam với màn biểu diễn múa sênh tiền quy mô lớn chưa từng có.