Chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non

Chính phủ mới ban hành Nghị định số 06/2018/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non.

Việc chi trả kinh phí hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo được thực hiện 2 lần trong năm học.

Theo đó, những trẻ em đang học tại lớp mẫu giáo trong các cơ sở giáo dục mầm non đảm bảo một trong ba điều kiện, gồm: Có cha mẹ hoặc có cha, có mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và là nhân khẩu trong gia định thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ sẽ được hưởng hỗ trợ ăn trưa bằng 10% mức lương cơ sở/trẻ/tháng. Thời gian hỗ trợ cho trẻ em được tính theo số tháng học thực tế (song không quá 9 tháng/năm học).

Còn đối với giáo viên mầm non, Nghị định quy định rõ chính sách cho 4 đối tượng giáo viên mầm non. Trong đó, giáo viên mầm non (bao gồm cả phó hiệu trưởng) làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong định mức giáo viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt ở các cơ sở giáo dục mầm non công lập này nếu đủ tiêu chuẩn chức danh giáo viên mầm non hạng IV (mã số V.07.02.06) trở lên, thì được ký hợp đồng lao động, xếp lương ở chức danh giáo viên mầm non hạng IV (mã số V.07.02.06) theo bảng lương quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Nghị định số 17/2013/NĐ-CP ngày 19/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP và được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành như giáo viên mầm non là viên chức trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập. Thời gian và bậc lương hưởng khi thực hiện chế độ hợp đồng lao động được nối tiếp để xếp lương và thực hiện chính sách khi được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc.

Giáo viên mầm non (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) đang làm việc ở các cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục được Nhà nước hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn khi tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Mức hỗ trợ của ngân sách thực hiện theo mức hỗ trợ đối với giáo viên công lập có cùng trình độ tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định.

Giáo viên mầm non (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được thanh toán tiền mua tài liệu học tập (không tính tài liệu tham khảo) tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số (nếu có) theo quy định. Tiền mua tài liệu học tập (không tính tài liệu tham khảo) được chi trả theo hóa đơn tài chính thực mua và được trả không quá 03 năm.

Giáo viên mầm non trực tiếp dạy 02 buổi/ngày tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo ghép từ hai độ tuổi trở lên ở các điểm lẻ hoặc trực tiếp dạy tăng cường tiếng Việt tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có trẻ em là người dân tộc thiểu số tại các điểm lẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ hằng tháng được hỗ trợ thêm một khoản bằng tiền là 450.000 đồng/tháng (bốn trăm năm mươi ngàn đồng một tháng). Thời gian hưởng hỗ trợ là 9 tháng/năm (từ tháng 9 năm trước đến hết tháng 5 của năm liền kề), tiền hỗ trợ được trả cùng với việc chi trả tiền lương của tháng và không dùng tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/02/2018./.
Diệu Linh

Tin Liên Quan

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Chậm nhất ngày 25/3 công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp

Thủ tướng chỉ đạo đẩy mạnh các nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu năm 2026

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 16/03/2026 về một số nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu năm 2026.

Kết thúc bầu cử, tỉ lệ cử tri cả nước tham gia bỏ phiếu đạt 99,68%

Theo báo cáo của Văn phòng Hội đồng Bầu cử Quốc gia tiếp tục cập nhật đến thời điểm 23h ngày 15/3, cả nước có tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là gần 76,2 triệu người, đạt 99,68%.

Hiện vật bầu cử - Những kỷ vật kết tinh giá trị lịch sử dân tộc

Mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp đi qua không chỉ để lại những dấu ấn về thành quả của một nhiệm kỳ mà còn được kết tinh lại trong những hiện vật bình dị nhưng chứa đựng giá trị lịch sử thiêng liêng.

Hơn 93% cử tri cả nước đã đi bầu cử, 5 tỉnh đạt tỉ lệ gần tuyệt đối

Tính đến 16h ngày 15/3, hơn 93% cử tri trên cả nước đã tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031; 5 địa phương ghi nhận tỉ lệ cử tri đi bầu rất cao, tiến sát 100%.