Người Hà Nhì tạ ơn thần rừng

Nghi lễ tạ ơn thần rừng “Gạ Ma Do” không chỉ nhắc nhở các thế hệ người Hà Nhì trong thôn, bản cần có ý thức bảo vệ khu rừng thiêng, là nơi không được xâm phạm mà còn là dịp để dân bản được thể hiện ước nguyện trước các vị thần linh về cuộc sống yên bình cho cả năm.

Người Hà Nhì ở Lào Cai thuộc nhóm Hà Nhì đen, với hơn 4.000 người, cư trú tập trung ở các xã Nậm Pung, Y Tý, A Lù, A Mú Sung, Trịnh Tường (Bát Xát) còn bảo tồn được nhiều nghi lễ truyền thống, trong đó có nghi lễ tạ ơn rừng thiêng “Gạ Ma Do”. Đây là nghi lễ lớn và quan trọng nhất trong năm của người Hà Nhì.

Nghi lễ tạ ơn thần linh (Dứ dò dò) của người Hà Nhì đen.

“Gạ Ma Do” có nghĩa là khu rừng thiêng, nơi ngự của các thần linh tốt, luôn bảo vệ thôn, bản tránh được cái xấu, đuổi đi con ma ác làm hại dân bản. Đây là khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt bằng các quy định trong hương ước của thôn, bản. Người Hà Nhì luôn quan niệm thôn, bản có bình yên, con người có mạnh khỏe, vật nuôi có sinh sôi phát triển, cây trồng có tươi tốt phụ thuộc rất nhiều vào khu rừng thiêng này, nếu vi phạm đến sự tôn nghiêm của khu rừng sẽ bị thần linh trừng phạt. Do đó, để cầu cho dân bản được bình yên, phát triển thì hằng năm đều phải chuẩn bị tổ chức nghi lễ cúng “Gạ Ma Do” thật chu đáo, mọi người đến phải thành tâm, tuân thủ đúng những quy định từ cha ông để lại.

Theo tập quán của người Hà Nhì ở Lào Cai, trước ngày diễn ra Lễ cúng “Gạ Ma Do” phải tổ chức nghi lễ cấm bản “Ga Tu Tu”. Lễ cấm bản được tổ chức tôn nghiêm. Họ cho rằng làm như vậy sẽ cấm được các loại ma xấu vào làm hại dân bản, nếu là người bản khác, người ở nơi xa đến thì không được vào bản, bởi vào bản thì con ma xấu sẽ theo vào. Nếu ai cố tình vào sẽ bị cả bản “phạt vạ”.

Để chuẩn bị cho nghi lễ rước nước về làm lễ cúng “Gạ Ma Do”, đại diện các gia đình trong bản sẽ mang lễ vật là 1 đôi gà, kẹp xôi màu vàng, rượu, hương… ra đầu nguồn nước của bản để làm lễ tạ ơn thần nước. Nghi lễ này nhằm tạ ơn thần nước đã cung cấp nước sinh hoạt và trồng cấy trong suốt một năm qua, cầu mong năm mới nước vẫn cứ đầy và chảy mãi không cạn trong thôn, bản. Sau nghi lễ này, những người phục vụ sẽ lấy ống bương xin nước thần về làm lễ cúng “Gạ Ma Do”.

Buổi chiều cùng ngày, đại diện các gia đình được phép tham gia theo quy định sẽ tập trung tại nhà trưởng bản hoặc thầy cúng chính để mang lễ vật lên rừng thiêng. Hai ông “Khư dù” sẽ cùng dân bản dắt 1 con lợn, 1 con gà trống cùng các loại lễ vật khác lên rừng thiêng. Hai ông thầy cúng “gạ ma guy” sẽ gùi lên rừng thiêng các vật dụng phục vụ việc cúng thần linh. Theo quan niệm của người Hà Nhì, thần rừng cũng có đôi, cũng có rừng chồng “Gạ ma à gư” và rừng vợ “Gạ ma à guy”. Tuy nhiên, trong nghi lễ cúng rừng “Gạ Ma Do” này, họ chỉ thực hiện ở khu vực thờ rừng chồng, đây là nơi thờ chính các vị thần cai quản tất cả hoạt động của thôn, bản. Hai ông thầy cúng “gạ ma guy” sẽ thỉnh cầu các vị thần linh về bảo vệ cho cuộc sống của dân bản được bình an, mùa màng tốt tươi, chăn nuôi phát triển, mưa thuận gió hòa, xua đi cái xấu, những rủi ro, những điều dữ có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của dân bản.

Trong mỗi thôn, bản người Hà Nhì đen ở Bát Xát đều có các khu rừng cấm, nguồn nước thiêng bao bọc, chở che. Rừng thiêng “Gạ Ma Do” luôn được coi là khu rừng quan trọng nhất, luôn nằm ở vị trí cao hơn thôn, bản. Từ trên rừng thiêng này, các vị thần có thể quan sát được hết các hoạt động của mọi người để bảo vệ thôn, bản được tốt hơn. Nơi đặt bàn thờ cũng phải là nơi trung tâm của khu rừng, luôn được các loại cây cổ thụ bao quanh, tỏa bóng mát cho khu vực thờ thần. Ở nơi thờ này, người dân sẽ chọn một gốc cây to hoặc giữa chỗ trống để cùng lấy những phiến đá lớn, bằng phẳng kê đặt thành một bàn thờ lớn với đầy đủ cả lưng ghế và hai tay ghế.

Khi thực hành nghi lễ, lễ vật dâng cúng thường bao gồm: Một con lợn đực màu đen, 1 đôi con gà, 1 kẹp xôi màu vàng có quả trứng già luộc chín ở giữa, 1 ống rượu nếp ủ sống không qua chưng cất được đựng trong ống tre cũ kỹ, 1 ống hút rượu bằng cành trúc nhỏ, 1 ống nước được lấy từ nguồn nước thiêng, 1 đôi thớt gỗ và 9 cái bát sứ, 2 đôi đũa. Trong đó, đôi thớt gỗ được sử dụng với 2 mục đích, 1 chiếc dùng để thái thịt gà, lợn; 1 chiếc được sử dụng như một chiếc mâm, khi sắp lễ vật 9 cái bát được đặt trên mâm gỗ này. Những dụng cụ trên đều là đồ vật chung của thôn, bản, được làm ra từ khi lập bản và được lưu truyền từ đời này sang đời khác, mỗi năm chỉ được mang ra làm lễ cúng thần 3 lần gồm: Lễ cúng nguồn nước “lú khù sụ”, lễ cúng rừng thiêng “Gạ Ma Do” và lễ hội Khô già già. Sau khi tổ chức xong nghi lễ, toàn bộ dụng cụ này được hai ông thầy “gạ ma guy” mang ra nguồn nước thiêng rửa sạch và mang về nhà ông thầy chính bảo quản trên sàn gác.

Trưa ngày Thìn, khi lễ vật được mang lên tới rừng, mọi người sẽ bỏ hết giày dép ở bên ngoài rừng, sau đó cùng vào và chia nhau đi làm lễ. Hai ông thầy thắp một bó hương và xin thần linh được dọn dẹp nơi tổ chức cúng thần. Khi các lễ vật đã được chuẩn bị đầy đủ theo yêu cầu, hai ông thầy sẽ làm lễ. Hai ông phải làm lễ 3 lần, mỗi lần 3 cái và sau mỗi lần lễ sẽ lại tiếp lễ vật lên bàn 1 lần. Sau lần làm lễ cuối cùng, tất cả những người tham dự sẽ đến trước bàn thờ thần linh quỳ lạy 1 lạy nhằm cầu mong thần linh phù hộ, che chở. Khi mọi việc đã xong, lễ vật được hạ xuống và chia đều cho mọi người cùng hưởng lộc ban của thánh thần. Cuối cùng sẽ là bữa ăn đoàn kết của tất cả mọi người, nhưng riêng hai ông “Gạ ma guy” ngồi một mâm riêng trước bàn thờ thần linh. Mọi lễ vật phải được ăn hết, không được mang thức ăn thừa về thôn, bản. Sau khi kết thúc, mọi thứ vương vãi trên bãi ngồi được mọi người thu dọn vào trong hố đã có từ trước để không làm ô uế đến thần linh. Phiến đá được đặt lên trên, sau 3 ngày, 2 ông thầy cúng ra xem lại phiến đá đậy trên hố có xê dịch không để biết được năm ấy dân bản yên ổn hay không.

Theo phong tục của người Hà Nhì, trước và sau lễ cúng “Gạ Ma Do” 2 ngày, vào ngày Ngọ, người Hà Nhì tổ chức lễ “Dứ dò dò” tại nhà thầy cúng chính để làm lễ tạ ơn thần rừng và cảm ơn thầy cúng. Đây là lễ cúng có sự tham gia đông đủ nhất gồm trẻ con, người lớn, người già, kể cả người nơi khác tới cũng có thể tham gia.

Lễ cúng “Gạ Ma Do” của người Hà Nhì ở Lào Cai là nghi lễ lớn nhất trong năm, mang giá trị giáo dục sâu sắc, không chỉ là môi trường giữ gìn bản sắc văn hóa của tộc người, mà còn tạo sự cố kết bền chặt của cộng đồng, thể hiện sự tôn thờ các vị thần nước, thần rừng với ước nguyện về cuộc sống ấm no, bình yên và hạnh phúc.

Theo LCĐT

Tin Liên Quan

Ngựa trong văn hóa dân gian người Nùng Dín

Với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, con ngựa là vật nuôi gần gũi, thân thiết trong mỗi gia đình. Dù không là "đầu cơ nghiệp" nhưng ngựa cũng được xem là tài sản có giá trị. Người vùng cao nuôi ngựa làm phương tiện thồ hàng, làm sức kéo, thậm chí để đua tài trong dịp lễ hội truyền thống... Sự...

Từ vó ngựa trên cao nguyên trắng đến Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Bắc Hà những ngày đầu năm mới, quyến rũ bởi mây sương bàng bạc, khí hậu ôn hòa quanh năm, sản vật quý và kho tàng văn hóa đậm bản sắc của người Mông, Dao, Tày… Nơi đây, tiếng vó ngựa là nhịp sống, là niềm kiêu hãnh của người dân.

Đặc sắc phong tục đón Tết của người Dao đỏ Phúc Lợi

Hằng năm, khi hoa đào, hoa mận bung nở khoe sắc thắm ở các sườn đồi, cũng là lúc làn gió mùa xuân đang đến, người Dao đỏ xã Phúc Lợi, tỉnh Lào Cai lại nô nức chuẩn bị đón năm mới với những phong tục, tập quán mang đậm bản sắc văn hóa riêng của người Dao đỏ.

Ăn Tết ở bản

Không đơn thuần là đi du lịch, nghỉ dưỡng, dịp Tết, nhiều du khách trong và ngoài nước lựa chọn ăn Tết ở bản, hòa chung với nhịp sống dân dã, đậm đà bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc. Với họ, Tết thực sự là trải nghiệm đáng nhớ.

Ngựa thiêng trong tranh thờ người Dao

Trong không gian thờ tự của người Dao ở Lào Cai, bộ tranh thờ không chỉ là tác phẩm hội họa dân gian, mà còn hàm chứa tri thức, tín ngưỡng và lịch sử của cộng đồng. Trong đó, hình tượng ngựa vừa là vật nuôi quen thuộc, vừa là linh vật thiêng, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người Dao qua...

Khát vọng bay giữa trời xuân

Với đồng bào người Tày, người Dao ở Lào Cai, ném còn là trò chơi dân gian không thể thiếu trong dịp Tết đến, Xuân về. Ẩn trong những quả còn là giá trị nhân văn, mơ ước, khát khao năm mới có cuộc sống đủ đầy, ấm no.